Chương I: VĀn đề cần nghiên cứu Chương II: Cơ sở lý thuyết Chương III: Phương pháp nghiên cứu Chương IV: Kiểm định và kết qu& nghiên cứu 2. Khái niệm Du lịch - Theo WTO: “Du lịch bao gồm tĀt c& những hoạt động của cá nhân đi đến và lưu lại ngoài nơi ở thường xuyên trong thời gian không dài ( không hơn một năm) với những mục đích khác nhau ngoại trư뀀 mục đích kiếm tiền h$ng ngày”. - Theo pháp lệnh du lịch Việt Nam (năm 2005) : “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nh$m thỏa mãn nhu cầu tham quan, gi&i trí, nghỉ dưỡng trong một kho&ng thời gian nhĀt định”. - Khái niệm s&n phẩm du lịch: s&n phẩm du lịch là những cái nh$m đáp ứng nhu cầu và mong muốn của khách du lịch, nó bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cho du khách, đươꄣc tạo nên bởi yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chĀt kỹ thuật và lao động tại một vùng, một cơ sở nào đó.
Khái niệm Khách du lịch - Theo WTO: “ Khách du lịch là người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình trên 24 giờ và nghỉ qua đêm tại đó với nhiều mục đích khác nhau ngoại trư뀀 mục đích kiếm tiền”. - Theo phá lệnh du lịch Việt Nam: “khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hơꄣp du lịch trư뀀 trường hơꄣp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. ( điều 4, luật du lịch, năm 2005) - Khái niệm khách du lịch quốc tế: Theo WTO: “ Khách du lịch quốc tế là những người lưu trú ít nhĀt là một đêm nhưng không quá một năm tại một quốc gia khác với quốc gia thường trú với nhiều mục đích khác nhau ngoài hoạt động để đươꄣc tr& lương ở nơi đến” Theo pháp lệnh du lịch Việt Nam: “khách du lịch quốc tế là những người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam ra nước ngoài du lịch”. (Điều 34, luật du lịch, 2005) 12 Khái niệm khách du lịch nội địa: - Theo WTO: “ Khách du lịch nội địa là người đang sống trong một quốc gia, không kể quốc tịch nào, đi đến một nơi khác, không ph&i nơi cư trú thường xuyên trong quốc gia đó trong kho&ng thời gian ít nhĀt 24 giờ và không quá thời gian 1 năm với các mục đích khác nhau ngoài hoạt động để đươꄣc tr& lương ở nơi đến” - Theo pháp lệnh du lịch Việt Nam: “Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”.
Khái niệm Sự hài lòng Sự hài lòng hay sự thỏa mãn của khách hàng là một khái niệm cơ b&n trong marketing và đã có rĀt nhiều định nghĩa đươꄣc đưa ra. Một lý thuyết thông dụng dùng để xem xét sự hài lòng của khách hàng là lý thuyết “K vọng – Xác nhận” đươꄣc phát triển bởi Oliver (1980) và đươꄣc dùng để nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với chĀt lươꄣng của các dịch vụ hay s&n phẩm của một nhà cung cĀp. Lý thuyết đó bao gồm hai quá trình nhỏ có tác động độc lập đến sự hài lòng của khách hàng: k vọng về dịch vụ trước khi mua và c&m nhận về dịch vụ sau khi đã tr&i nghiệm. Theo lý thuyết này có thể hiểu sự hài lòng của khách hàng là quá trình như sau: Trước hết, khách hàng hình thành trong suy nghĩ của mình những k vọng về những yếu tố cĀu thành nên chĀt lươꄣng dịch vụ mà nhà cung cĀp có thể mang lại cho họ trước khi các khách hàng quyết định mua.
Những k vọng của khách hàng thường đươꄣc hình thành tư뀀 kinh nghiệm mua hàng trước đây của họ, những ý kiến của bạn bè và đồng nghiệp, những thông tin và hứa hẹn của người bán và đối thủ cạnh tranh. Sau đó, việc mua dịch vụ và sử dụng dịch vụ sẽ tạo nên c&m nhận thực tế của khách hàng về dịch vụ mà họ đang sử dụng. Sự thỏa mãn của khách hàng chính là kết qu& của sự so sánh hiệu qu& mà dịch vụ này mang lại giữa những gì mà họ k vọng trước khi mua dịch vụ và những gì mà họ đã nhận đươꄣc sau khi đã sử dụng nó. Còn theo Cadotte, Woodruff, và Jenkins (1982): “Sự hài lòng là sự so sánh giữa những k vọng với những tr&i nghiệm”.
Sự hài lòng của khách hàng c#ng là “sự đánh giá sau khi mua đối với dịch vụ đươꄣc cung cĀp” (Bolton và Drew, 1991). Còn Bachelet (1995) thì cho r$ng “sự hài lòng của khách hàng như một ph&n ứng mang tính c&m xúc của khách hàng đáp lại với kinh nghiệm của họ về một s&n phẩm hay một dịch vụ”. Anton (1996) đã đưa ra một cách tiếp cận khác, ông định nghĩa “sự hài lòng của khách hàng như một trạng thái tâm lý khi mà những nhu cầu, mong muốn và mong đơꄣi của khách hàng đươꄣc đáp ứng hoặc vươꄣt quá dẫn đến kết qu& trong tương lai là việc mua lại và lòng trung thành của họ”. Sự hài lòng của khách hàng c#ng có thể đươꄣc định nghĩa như là sự thỏa mãn trong kết qu& hoặc xuyên suốt trong c& quá trình.
Một định nghĩa c#ng đươꄣc sử dụng phổ biến đó là: “Sự hài 13 lòng của khách hàng là trạng thái tâm lý mà khách hàng c&m nhận về một công ty (tổ chức) khi những k vọng của họ đươꄣc thỏa mãn hoặc là thỏa mãn vươꄣt qua sự mong đơꄣi thông qua tiêu dùng s&n phẩm hoặc dịch vụ” (Oliver,1997). Theo Zeithaml and Bitner (2000), sự hài lòng của khách hàng là “sự đánh giá của khách hàng về một s&n phẩm hay một dịch vụ đã đáp ứng đươꄣc nhu cầu và mong đơꄣi của họ”. Còn theo Kotler (2001), “sự hài lòng là mức độ của trạng thái của một người, bắt nguồn tư뀀 việc so sánh kết qu& thu đươꄣc tư뀀 s&n phẩm và những k vọng của người đó”. Bên cạnh đó, Hoyer và Maclnnis (2001) cho r$ng “sự hài lòng có thể đươꄣc gắn liền với c&m giác chĀp nhận, hạnh phúc, nhẹ nhõm, phĀn khích và thích thú”.
Như vậy, sự hài lòng hay sự thỏa mãn của khách hàng chính là “trạng thái c&m nhận của một người qua việc tiêu dùng s&n phẩm về mức độ lơꄣi ích mà một s&n phẩm thực tế đem lại so với những gì người đó c&m k vọng”. Có ba mức độ thỏa mãn sau: khách hàng không hài lòng nếu kết qu& thực tế kém hơn so với những gì họ k vọng; khách hàng hài lòng nếu kết qu& đem lại tương xứng với k vọng và khách hàng rĀt hài lòng nếu kết qu& thu đươꄣc vươꄣt quá sự mong đơꄣi. Riêng trong lĩnh vực du lịch, nhiều nhà nghiên cứu đã định nghĩa sự hài lòng của du khách là “kết qu& của sự tương tác giữa giá trị c&m nhận và mong đơꄣi của du khách về điểm đến” (Pizam, Neumann, Reichel, 1978 và Oliver, 1980). Oliver (1980) c#ng cho r$ng “sự chênh lệch giữa giá trị k vọng và giá trị c&m nhận về cách mà s&n phẩm du lịch tác động đến c&m xúc của du khách sẽ quyết định mức độ hài lòng của du khách đối với s&n phẩm đó”.
Định nghĩa này có thể gây nhầm lẫn giữa sự hài lòng và chĀt lươꄣng dịch vụ, tuy nhiên nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định chĀt lươꄣng dịch vụ và sự hài lòng có quan hệ với nhau nhưng là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Họ cho r$ng, chĀt lươꄣng dịch vụ là kết qu& của việc đánh giá về nhà cung ứng, trong khi sự hài lòng là c&m xúc của khách hàng khi tiếp xúc hay giao dịch với nhà cung ứng. Khái ni ệ m Đi ể m đềấn du lịch - Trong tiếng Anh, tư뀀 “Tourism Destination”: Điểm đến du lịch là vùng không gian địa lý mà khách du lịch ở lại ít nhĀt một đêm, bao gồm các s&n phẩm du lịch, các dịch vụ cung cĀp, các tài nguyên du lịch thu hút khách, có ranh giới hành chính để qu&n lý và có sự nhận diện về hình &nh để xác định kh& năng cạnh tranh trên thị trường. - Ngoài ra “Tourist attraction” c#ng là một điểm thu hút khách du lịch, nơi khách du lịch tham quan, thường có các giá trị vốn có của nó hoặc trưng bày các giá trị văn hóa, ý nghĩa lịch sử hoặc đươꄣc xây dựng, cung cĀp các dịch vụ về phiêu lưu, mạo hiểm, vui chơi gi&i trí hoặc khám phá, tr&i nghiệm những điều mới lạ.
- Luật Du lịch(2005) có ba khái niệm, đó là: “Đô thị du lịch là đô thị có lơꄣi thế phát triển du lịch và du lịch có vai trò quan trọng trong hoạt động của đô thị. Khu 14 du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hĀp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, đươꄣc quy hoạch, đầu tư phát triển nh$m đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu qu& về kinh tế - xã hội và môi trường. Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hĀp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”. So sánh những khái niệm trên có thể thĀy: – Các đô thị lớn, các trung tâm – Các trung tâm truyền thống đươꄣc triển khai theo mục tiêu du lịch (các trung tâm tour du lịch c#ng là dạng thức điểm đến này) – Các khu vực nghỉ ngơi đươꄣc xây dựng có chủ đích du lịch.
– Các quốc gia (Việt Nam, Thái Lan….) – Nhóm các quốc gia (ASEAN, EU…) và lục địa (Á, Âu, Mỹ,…) Có thể phân biệt hai loại điểm đến là điểm đến cuối cùng và điểm đến trung gian. Tư뀀 góc độ địa lý, điểm đến du lịch trở thành đối tươꄣng nghiên cứu gắn với sự chuyển động của dòng du khách c#ng như ý nghĩa và sự tác động của dòng du khách đối với điểm đến. Đồng thời điểm đến là tập hơꄣp tĀt c& các khía cạnh của du lịch trong một cơ cĀu thống nhĀt bao gồm: Cầu, giao thông vận t&i, cung và hoạt động marketing. ể nệcác ỹềấu tồấ ảnh h ưởng sự hài lòng c ủa 2.
Các mồ hình th hi khách hàng 2. Mồ hình thang đo chấất lượng dịch v ụ SERQUAL Parasuraman cùng cộng sự (1985) đã nghiên cứu ra mô hình năm kho&ng cách dùng để đánh giá chĀt lươꄣng dịch vụ đào tạo và cho r$ng chĀt lươꄣng dịch vụ là hàm số của kho&ng cách thứ năm. Kho&ng cách thứ năm này phụ thuộc vào các kho&ng cách trước đó. Nghĩa là phụ thuộc vào các kho&ng cách 1, 2, 3, 4.