CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài Theo báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam 2016 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI, 2017) thì hiện nay, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa. Nếu xét về quy mô lao động, trong tổng số 402.251 doanh nghiệp đang hoạt động năm 2016 thì có tới 393.928 doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), chiếm tới 97,9%. Trong nền kinh tế loại hình doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng, nhất là tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo, là trụ cột của kinh tế địa phương và đóng góp không nhỏ cho GDP quốc gia.
Đây cũng là nhóm đối tượng thu hút sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các hiệp hội trong nước cũng như các cơ quan, các tổ chức viện trợ quốc tế. Ví dụ như Ngân hàng thế giới đã phê duyệt hơn 10 tỷ USD cho các chương trình hỗ trợ có mục tiêu cho các DNNVV tại các nền kinh tế phát triển từ năm 2010 – 2015 và 1,3 tỷ USD trong năm 2014 (European Commission, 2013). Mặc dù vai trò và tầm quan trọng của các DNNVV trong nền kinh tế là rất lớn nhưng hiện tại các DNNVV còn gặp rất nhiều khó khăn, cụ thể: Thứ nhất, DNNVV không đảm bảo được niềm tin cho các nhà đầu tư nên khó có thể thu hút vốn, mở rộng quy mô sản xuất cũng như mở rộng thị trường. Số lượng doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động trong năm 2016 là 60,7 nghìn doanh nghiệp, tăng 11,9% so với 2012 và tăng 12,5% so với 2011.
DNNVV cũng khó tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng nên dẫn đến thiếu vốn sản xuất kinh doanh, chủ yếu dựa vào vốn tự có; chỉ có hơn 1/3 DNNVV (chưa đến 36%) trong số doanh nghiệp đang hoạt động có tiếp cận vốn vay ngân hàng. Hạn chế trong việc huy động vốn xuất phát từ chính bản thân DNNVV vì phần lớn các doanh nghiệp này có quy mô nhỏ, vốn chủ sở hữu và năng lực tài chính hạn chế; trình độ quản trị kinh doanh còn bất cập và thiếu chiến lược. Các DNNVV chưa coi trọng việc cập nhật thông tin hoạt động cũng như tổ chức hạch toán kế toán theo quy định, thường nộp chậm BCTC cho các cơ quan có thẩm quyền, trong đó có ngân hàng, số liệu thiếu chính xác và chưa có kiểm toán độc lập nên ảnh hưởng đến quá trình xem xét và thẩm định hồ sơ vay vốn. Chính vì khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn nên các DNNVV đầu tư mua sắm tài sản cố định (TSCĐ) và các khoản đầu tư dài hạn tương đối hạn chế (VCCI, 2017).
2 Thứ hai, doanh thu, lợi nhuận của DNNVV có xu hướng giảm, tỷ lệ doanh nghiệp thua lỗ có xu hướng gia tăng (chiếm đến 65,8% tính đến hết tháng 9/2016). Tình trạng này tiếp tục sẽ gây ảnh hưởng không tốt cho kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nói chung trong cả hiện tại và tương lai. Thứ ba, hiệu quả hoạt động của DNNVV thấp hơn nhiều so với mức chung của toàn bộ khối doanh nghiệp; năng lực quản lý, điều hành, trang thiết bị công nghệ, khả năng tiếp cận thị trường của DNNVV hạn chế. Theo Bộ Eế hoạch và Đầu tư (2016) thì năm 2015 với 1 đồng vốn kinh doanh bỏ ra DNNVV chỉ thu về 0,18 đồng lợi nhuận so với mức chung của các doanh nghiệp.
Kết quả này phản ánh quy mô vốn, năng lực quản lý, điều hành, trình độ công nghệ, khả năng tiếp cận thị trường của DNNVV hạn chế hơn nhiều so với doanh nghiệp quy mô lớn. Đây cũng chính là đối tượng dễ bị ảnh hưởng và tổn thương nhất từ suy giảm kinh tế. Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của các DNNVV trong nền kinh tế, cũng như những khó khăn mà nhóm đối tượng này đang phải đối mặt, Quốc hội và Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm hỗ trợ tạo ra khung pháp lý đồng bộ để thúc đẩy sự phát triển của nhóm doanh nghiệp này trong xu thế phát triển chung của đất nước. Ngày 12/06/2017, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có hiệu lực từ ngày 01/01/2018.
Đây là lần đầu tiên vấn đề này được quy định tại một luật riêng. Trên góc độ là các DNNVV, nhóm đối tượng này cũng cần thực hiện các công cụ quản lý, kiểm tra, kiểm soát để nâng cao năng lực hoạt động. Một trong những công cụ quản lý hữu hiệu mà các DNNVV hiện nay còn chưa biết cách áp dụng hiệu quả để mang lại lợi ích cho đơn vị mình đó là sử dụng dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) do kiểm toán độc lập cung cấp. Trong hoạt động kiểm toán thì kiểm toán BCTC là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về BCTC của một đơn vị và qua đó kiểm toán viên (KTV) đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý của BCTC giúp cho những đối tượng quan tâm có thể đưa ra các quyết định kinh tế đúng đắn.
Theo Nguyễn Quang Quynh (2008), hoạt động kiểm toán BCTC có tác dụng quan trọng như (i) kiểm toán tạo niềm tin cho những “người quan tâm” như: các cơ quan nhà nước, các nhà đầu tư, các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lý, người lao động, khách hàng, nhà cung cấp. Riêng đối với các DNNVV thì đối tượng quan tâm chính tới BCTC là: cơ quan thuế, Ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các nhà đầu tư và chủ doanh nghiệp (Collis và Jarvis, 2000). (ii) kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nền nếp hoạt động tài chính kế toán; và (iii) kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý. 3 Mặc dù hoạt động kiểm toán BCTC mang lại rất nhiều lợi ích cho các khách thể kiểm toán nhưng tại Việt Nam hiện nay ngoài nghĩa vụ hoàn thiện báo cáo quyết toán thuế thì phần lớn các DNNVV được tự nguyện lựa chọn có thực hiện kiểm toán BCTC của đơn vị mình hoặc tự nguyện lựa chọn các dịch vụ đảm bảo độc lập, khách quan đối với thông tin tài chính, các giao dịch và các quy trình.
Vì vậy hầu như những thông tin tài chính có liên quan đến hoạt động của nhóm đối tượng này rất ít khi được công bố và các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp khó có cơ hội tiếp cận một cách công khai và minh bạch, ngoại trừ các doanh nghiệp bị bắt buộc thực hiện kiểm toán theo luật định như trong quy định của Nghị định số 17/2012/NĐ-CP của Chính phủ. Việc tăng cường công tác kiểm toán BCTC do các công ty kiểm toán độc lập thực hiện tại các DNNVV có thể coi là một biện pháp khả thi giúp các doanh nghiệp thấy rõ được thực trạng tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, luồng tiền để qua đó giúp họ có thể điều hành doanh nghiệp và đưa ra các quyết định kinh tế đúng đắn hơn. Hơn nữa nếu BCTC của các DNNVV được kiểm toán thì những người quan tâm và sử dụng kết quả kiểm toán có thể dựa vào để đưa ra các quyết định kinh tế đúng đắn hơn. Một vấn đề đặt ra là vậy thì để các DNNVV lựa chọn sử dụng dịch vụ kiểm toán BCTC (thuê kiểm toán độc lập kiểm toán BCTC) thì những yếu tố nào sẽ ảnh hưởng đến quyết định này và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ra sao.
Hơn nữa trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế mở, thông tin tài chính kế toán cần được công khai, minh bạch và được xác nhận bởi kiểm toán độc lập thì việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ kiểm toán BCTC từ phía các DNNVV là vấn đề quản lý cấp thiết và cần nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn. Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài“Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ kiểm toán BCTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam”. Nội dung nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà soạn thảo chính sách giúp điều chỉnh các quy chế về hoạt động của các DNNVV mà còn có ý nghĩa trực tiếp đối với các DNNVV, giúp họ nhận thức được những giá trị mà kiểm toán BCTC mà kiểm toán độc lập mang lại giúp nâng cao hiệu quả hoạt động, hiệu năng quản lý, kiểm tra kiểm soát hoạt động tài chính. Ở một khía cạnh khác, khía cạnh sử dụng thông tin, luận án có ý nghĩa đối với những đối tượng quan tâm tới thông tin tài chính của doanh nghiệp như nhà đầu tư, các ngân hàng và tổ chức tín dụng.
Nghiên cứu này cũng đưa ra các khuyến nghị giúp các công ty kiểm toán độc lập xem xét lại những nội dung liên quan đến chất lượng kiểm toán, giá phí kiểm toán, tính độc lập của kiểm toán viên khi cung cấp các dịch vụ kiểm toán cho đối tượng DNNVV – một đối tượng khách hàng tiềm năng, chiếm số lượng lớn nhưng không dễ dàng tiếp cận. Tổng quan nghiên cứu 1. Nghiên cứu quốc tế về các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ kiểm toán BCTC của các DNNVV Trên thế giới một số các quốc gia như Anh, Mỹ, Úc sau một thời gian thực hiện kiểm toán bắt buộc đối với mọi thành phần kinh tế đã dần dần nới lỏng quy định về kiểm toán bắt buộc và các DNNVV có thể tự nguyện lựa chọn có thực hiện kiểm toán BCTC hay không thì tùy thuộc từng doanh nghiệp. Việc cho phép một nhóm khách thể kiểm toán được quyền lựa chọn có hay không thực hiện kiểm toán BCTC, đặc biệt nhóm khách thể này đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đã dẫn đến nhiều tranh luận trong giới học thuật cũng như các nhà ban hành chính sách.
Hiện tại các nghiên cứu trên thế giới tập trung vào những nội dung chính của hoạt động kiểm toán tự nguyện đó là: • Lý giải và khái quát những yếu tố có tác động đến việc thực hiện (hoặc không thực hiện) kiểm toán BCTC của nhóm khách thể tự nguyện. • Yếu tố/ nhóm yếu tố nào có vai trò ảnh hưởng đến các nhà quản lý sử dụng dịch vụ kiểm toán BCTC. • Phân tích những lợi ích và chi phí mà đơn vị phải cân nhắc trước khi sử dụng dịch vụ kiểm toán BCTC. • Nếu đã thực hiện kiểm toán, nhóm khách thể tự nguyện có tiếp tục thực hiện kiểm toán BCTC trong những năm tiếp theo hoặc trong dài hạn hay không?