Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Tổng quan về lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY 2. Khung lý thuyết nghiên cứu: Một công ty có thể có nhiều động lực để thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, do đó, không có một lý thuyết chung nào về FDI có thể giải thích một cách toàn diện sự tồn tại của các công ty đa quốc gia (MNCs). Người ta bắt đầu tìm kiếm lời giải thích từ sau chiến tranh thế giới thứ hai khi xuất hiện hiện tượng toàn cầu hóa.
Vai trò của các công ty đa quốc gia và FDI gia tăng mạnh mẽ trong những năm 1950 và 1960 giúp cho các nhà nghiên cứu tìm ra các lý thuyết giải thích hành vi của MNCs và sự tồn tại của sản phẩm có tính chất quốc tế. Lý thuyết về lợi nhuận cận biên của Mac. Dougall đã đề xuất một mô hình lý thuyết, phát triển từ những lý thuyết chuẩn của Hescher Ohlin - Samuaelson về sự vận động vốn. Ông cho rằng luồng vốn đầu tư sẽ chuyển từ nước lãi suất thấp sang nước có lãi suất cao cho đến khi đạt được trạng thái cân bằng (lãi suất hai nước bằng nhau).
Sau đầu tư, cả hai nước trên đều thu được lợi nhuận và làm cho sản lượng chung của thế giới tăng lên so với trước khi đầu tư. Lý thuyết này được các nhà kinh tế thừa nhận những năm 1950 dường như phù hợp với lý thuyết. Nhưng sau đó, tình hình trở nên thiếu ổn định, tỷ suất đầu tư của Mỹ giảm đi đến mức thấp hơn tỷ suất trong nước, nhưng FDI của Mỹ ra nước ngoài vẫn tăng liên tục. Mô hình trên không giải thích được hiện tượng vì sao một số nước đồng thời có dòng vốn chảy vào, có dòng vốn chảy ra; không đưa ra được sự giải thích đầy đủ về FDI.
Do vậy, lý thuyết lợi nhuận cận biên chỉ có thể được coi là bước khởi đầu hữu hiệu để nghiên cứu FDI. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lý thuyết Hymer (1976): Hymer (1976) giải thích các lý thuyết của FDI bằng cách so sánh sự khác biệt giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư theo danh mục đầu tư. Dựa trên lý thuyết đầu tư danh mục, nguồn vốn di chuyển từ nơi có lãi suất thấp đến nơi có lãi suất cao cho đến khi lãi suất cân bằng.
Lý thuyết này giả định rằng không có các rào cản đối với việc luân chuyển vốn như các rủi ro và sự không chắc chắn. Tuy nhiên, Hymer lập luận rằng lý thuyết về đầu tư danh mục không giải thích sự kiểm soát (Hymer 1976). Trong đầu tư danh mục, các nhà đầu tư đầu tư ở nước ngoài không có quyền kiểm soát doanh nghiệp mà họ đầu tư vào. Dựa trên Hymer, có hai lý do giải thích tại sao các nhà đầu tư tìm kiếm sự kiểm soát có nghĩa là các công ty đa quốc gia kiểm soát các doanh nghiệp nước ngoài để đảm bảo việc đầu tư của họ là an toàn và để loại bỏ đối thủ cạnh tranh ở nước ngoài và từ nước khác.
Hymer cho rằng các công ty đa quốc gia đang thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài do lợi thế nhất định mà họ nhận được thông qua kiểm soát các doanh nghiệp. Hymer đã phân tích lợi thế của các công ty nước ngoài so với các công ty nhận đầu tư. Những lợi thế này đang nhận được các yếu tố của sản xuất với chi phí thấp hơn, phương thức sản xuất, bằng sáng chế, vốn… Ở nơi mà bất hoàn hoàn hảo thị trường tồn tại (rào cản gia nhập thị trường, chi phí giao dịch cao), các công ty đa quốc gia muốn tham gia vào đầu tư trực tiếp hơn. Lý thuyết vòng đời sản phẩm của Vernon (1966): Lý thuyết vòng đời sản phẩm được S.Hirsch đưa ra trước tiên và sau đó được Raymond Vernon phát triển một cách có hệ thống từ năm 1966.
Lý thuyết này có đóng góp đáng kể cho việc phân tích FDI. Nó phân tích bốn giai đoạn sản xuất bắt đầu với việc phát minh ra sản phẩm mới thông qua hai ý tưởng: một là, mỗi sản phẩm có một vòng đời từ khi xuất hiện cho đến lúc bị đào thải, vòng đời này dài hay ngắn là tùy thuộc vào từng sản phẩm; hai là, các nước công nghiệp phát triển thường nắm giữ những công nghệ độc quyền vì các nước này kiểm soát được khâu nghiên cứu và triển khai từ đó có lợi thế về quy mô. Lý thuyết vòng đời sản phẩm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 cho cái nhìn sâu sắc tại sao và làm thế nào xuất khẩu được thay thế bằng đầu tư nước ngoài. Bài nghiên cứu của Vernon dựa trên các doanh nghiệp Mỹ mà đang sản xuất cho thị trường trong nước và sau đó là cho thị trường quốc tế.
Vernon đã cố gắng tìm hiểu về sự thay đổi của thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế. Theo lý thuyết này, ban đầu phần lớn các sản phẩm mới được sản xuất tại nước phát minh ra nó và được xuất khẩu đi các nước khác. Nhưng khi sản phẩm mới này đã được chấp nhận rộng rãi trên thị trường thế giới thì sản xuất bắt đầu được tiến hành ở các nước khác. Kết quả rất có thể là sản phẩm sau đó sẽ được xuất khẩu trở lại nước phát minh ra nó.
Cụ thể vòng đời quốc tế một sản phẩm gồm ba giai đoạn: Giai đoạn 1: sản phẩm mới xuất hiện cần thông tin phản hồi xem có thỏa mãn được nhu cầu khách hàng hay không và sản phẩm được bán trong nước cũng là để tối thiểu hóa chi phí. Xuất khẩu sản phẩm giai đoạn này không đáng kể. Người tiêu dùng chú trọng đến chất lượng và độ tin cậy hơn là giá bán sản phẩm. Quy trình sản xuất chủ yếu là nhỏ.
Giai đoạn 2: sản phẩm được chấp nhận, nhu cầu tăng, xuất khẩu tăng mạnh, các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước xuất hiện. Nhưng dần dần nhu cầu trong nước giảm, chỉ có nhu cầu ở nước ngoài tiếp tục tăng. Xuất khẩu nhiều (đạt đến đỉnh cao) và các nhà máy ở nước ngoài bắt đầu được hình thành (sản xuất thông qua FDI). Giá trở thành yếu tố quan trọng trong quyết định của người tiêu dùng.
Giai đoạn 3: sản phẩm được tiêu chuẩn hóa, thị trường ổn định, hàng hóa trở nên thông dụng, các doanh nghiệp chịu áp lực phải giảm chi phí càng nhiều càng tốt để tăng lợi nhuận hoặc giảm giá để tăng năng lực cạnh tranh. Cạnh tranh ngày càng gay gắt, các thị trường trong nước trì trệ, cần sử dụng lao động rẻ. Sản xuất tiếp tục được chuyển sang các nước khác có lao động rẻ hơn thông qua FDI. Nhiều nước xuất khẩu sản phẩm trong giai đoạn trước (trong đó có nước tìm ra sản phẩm) nay trở thành các nước chủ đầu tư và phải nhập khẩu chính sản phẩm đó vì sản phẩm sản xuất trong nước không còn cạnh tranh được về giá bán trên thị trường quốc tế.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lý thuyết OLI của Dunning (1993): Dunning (1993) nghiên cứu các yếu tố quyết định đến FDI thông qua lý thuyết mô hình OLI. Mô hình này cung cấp một khuôn khổ cho nhóm các yếu tố vi mô và vĩ mô để phân tích lý do tại sao và ở đâu các doanh nghiệp đa quốc gia (MNEs) đầu tư ra bên ngoài. Theo quan điểm của Dunning, các MNCs chắc chắn phải sở hữu một số lợi thế nhất định để có thể cạnh tranh với các hãng trong nước tại thị trường quốc gia sở tại.
Trong mô hình của Dunning các lợi thế đó bao gồm: lợi thế về quyền sở hữu (Ownership), về vị thế (Location) và lợi thế quốc tế hóa (Internalization) là khuôn khổ của lý thuyết OLI. Thứ nhất, các công ty nên có lợi thế về quyền sở hữu cho phép họ cạnh tranh hiệu quả trong thị trường nội địa, ví dụ, quy trình sản xuất của công ty, công ty có lợi thế cạnh tranh hơn các công ty trong nước, và nó cũng bao gồm thương hiệu, bản quyền, công nghệ và kỹ năng quản lý. Thứ hai, nước chủ nhà nên sở hữu những lợi thế cạnh tranh quốc gia, điều này sẽ khuyến khích công ty nước ngoài đến trực tiếp sản xuất phục vụ thị trường trong nước thay vì xuất khẩu vào nước đó, ví dụ, chi phí sản xuất và vận chuyển thấp, ưu đãi thuế, rủi ro thấp,… Và cuối cùng, lợi thế quốc tế hóa (lợi thế công ty tự sản xuất ra sản phẩm chứ không phải thông qua việc hợp tác với công ty tại nước chủ nhà) giúp công ty xây dựng và khai thác năng lực của mình như chi phí vận chuyển thấp, quản lý hiệu quả và kiểm soát chất lượng tốt, để sản xuất hơn là phụ thuộc vào hợp đồng với công ty nước ngoài, bởi nó thường hàm chứa nhiều rủi ro do công ty phải tiết lộ một số thông tin độc quyền với đối tác. Dunning (1993) cho rằng lợi thế OLI có thể khác nhau phụ thuộc vào việc các quốc gia đó phát triển ít hay đã phát triển, lớn hay nhỏ, ngành công nghiệp đó là thâm dụng lao động hay vốn, thị trường đó là mới nổi hay đã trưởng thành, cạnh tranh hay độc quyền.
Theo Dunning và Lundan (2008) có bốn loại khác nhau của FDI: FDI tìm kiếm thị trường, FDI tìm kiếm tài nguyên, FDI tiềm kiếm hiệu quả thị trường, FDI tìm kiếm tài sản chiến lược. FDI tìm kiếm thị trường mục đích là thâm nhập thị trường nội địa của nước chủ nhà và thường liên quan đến: quy mô thị trường và thu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 nhập bình quân đầu người, tốc độ tăng trưởng của thị trường, khả năng tiếp cận với thị trường khu vực và thế giới, sở thích của người tiêu dùng và cấu trúc của thị trường nội địa. FDI tìm kiếm tài nguyên bị thu hút bởi tài nguyên thiên nhiên như nguyên liệu, chi phí lao động thấp (cả lao động không có kỹ năng và lao động có kỹ năng), cơ sở vật chất (cảng, đường, năng lượng, viễn thông), và trình độ công nghệ.