Các Tội Phạm Về Tham Nhũng Theo Luật Hình Sự Việt Nam: Nghiên Cứu Tại Tỉnh Nam Định

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các tội phạm tham nhũng theo luật hình sự việt nam trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh nam, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2017

93
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI PHẠM THAM NHŨNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. Khái niệm và đặc điểm của các tội phạm tham nhũng

1.2. Khái niệm các tội phạm tham nhũng

1.3. Các đặc điểm cơ bản của các tội phạm tham nhũng

1.4. Khái quát lịch sử Luật hình sự Việt Nam quy định về các tội phạm tham nhũng

1.4.1. Giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945

1.4.2. Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985

1.4.3. Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999

2. CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI PHẠM THAM NHŨNG TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1. Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội phạm tham nhũng và hình phạt áp dụng

2.1.1. Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội phạm tham nhũng

2.1.2. Hình phạt áp dụng đối với các tội phạm tham nhũng

2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội phạm tham nhũng của các Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Nam Định

2.2.1. Khái quát tình hình xét xử các tội phạm tham nhũng trên cả nước

2.2.2. Thực tiễn xét xử các tội phạm tham nhũng trên địa bàn tỉnh Nam Định

2.3. Nguyên nhân của những tồn tại, thiếu sót trong áp dụng các quy định về các tội phạm tham nhũng trong Bộ luật hình sự năm 1999

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ TỘI PHẠM THAM NHŨNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG

3.1. Một số kiến nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội phạm tham nhũng

3.2. Một số nội dung mới trong Bộ luật hình sự năm 2015 về các tội phạm tham nhũng

3.3. Một số kiến nghị tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về các tội phạm tham nhũng

3.4. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về tội phạm tham nhũng

3.4.1. Đổi mới phương thức đào tạo, nâng cao trình độ chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ và ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ tư pháp

3.4.2. Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra, Tòa án

3.4.3. Thực hiện tốt cơ chế: Kiểm soát, giám sát quyền lực; xử lý nghiêm minh và đãi ngộ hợp lý

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tội Phạm Tham Nhũng Theo Luật Hình Sự

Các tội phạm tham nhũng là một hiện tượng tiêu cực, mang tính lịch sử, gắn liền với sự hình thành giai cấp và bộ máy nhà nước. Chúng diễn ra ở mọi quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị hay trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Các tội phạm tham nhũng gây ra những hậu quả nguy hại về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, cản trở sự phát triển và xói mòn lòng tin của nhân dân. Tội phạm này luôn gắn liền với yếu tố quyền lực, khi một người được giao quyền lực và sử dụng nó để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, xã hội và công dân nhằm mục đích vụ lợi. Theo Điều 352 BLHS năm 2015, các tội phạm tham nhũng xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thi hành công vụ.

1.1. Khái Niệm Tội Phạm Tham Nhũng Trong Luật Hình Sự

Để hiểu rõ khái niệm tội phạm tham nhũng, cần bắt đầu từ khái niệm người có chức vụ. Theo Điều 277 Bộ luật Hình sự 1999, người có chức vụ là người do bổ nhiệm, bầu cử, hợp đồng hoặc hình thức khác, có hưởng lương hoặc không, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định. Bộ luật hình sự năm 2015 cũng đưa ra khái niệm tương tự. Có thể hiểu người có chức vụ là người được giao thực hiện công vụ hợp pháp và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ đó. Ví dụ, bác sĩ khám sức khỏe tuyển dụng cán bộ, thủ kho quản lý kho hàng, dân phòng bắt tội phạm đều được coi là người có chức vụ.

1.2. Đặc Điểm Cơ Bản Của Các Tội Phạm Tham Nhũng

Các tội phạm tham nhũng có một số đặc điểm cơ bản. Thứ nhất, chúng xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, lợi ích của Nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Thứ hai, hành vi khách quan của các tội phạm tham nhũng thường được thể hiện bằng hành động. Đa số các tội phạm tham nhũng có cấu thành tội phạm hình thức, tức là chỉ có dấu hiệu hành vi khách quan mà không có dấu hiệu hậu quả. Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa tội phạm tham nhũng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ bằng lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức.

II. Lịch Sử Quy Định Về Tội Phạm Tham Nhũng Tại Việt Nam

Các quy định về tội phạm tham nhũng trong pháp luật hình sự Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến sau khi ban hành Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1985 và Bộ luật Hình sự năm 1999. Mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng, phản ánh sự thay đổi của tình hình kinh tế - xã hội và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Việc nghiên cứu lịch sử lập pháp giúp hiểu rõ hơn về bản chất và sự phát triển của các quy định về tội phạm tham nhũng.

2.1. Giai Đoạn Trước Cách Mạng Tháng Tám Năm 1945

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, pháp luật hình sự Việt Nam chưa có các quy định cụ thể về tội phạm tham nhũng như hiện nay. Tuy nhiên, một số hành vi có tính chất tham nhũng, như hối lộ, lạm dụng chức vụ, đã được quy định trong các văn bản pháp luật của chế độ phong kiến và thực dân. Các quy định này thường mang tính chất răn đe, trừng phạt nghiêm khắc, nhưng chưa có hệ thống và chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong xã hội hiện đại.

2.2. Giai Đoạn Sau Cách Mạng Tháng Tám Đến Trước BLHS Năm 1985

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật mới, trong đó có các quy định về phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, do điều kiện chiến tranh và khó khăn kinh tế, các quy định này còn đơn giản và chưa được thực thi hiệu quả. Một số hành vi tham nhũng đã được quy định trong các sắc lệnh, nghị định của Chính phủ, nhưng chưa có một bộ luật hình sự hoàn chỉnh để điều chỉnh các tội phạm tham nhũng.

2.3. Giai Đoạn Từ BLHS 1985 Đến Trước BLHS 1999

Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1985 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc pháp điển hóa các quy định về tội phạm tham nhũng. Bộ luật này đã quy định một số tội danh cụ thể liên quan đến tham nhũng, như tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ, tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, các quy định này còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong bối cảnh đất nước đổi mới và hội nhập quốc tế.

III. Dấu Hiệu Pháp Lý Và Hình Phạt Cho Tội Phạm Tham Nhũng

Các tội phạm tham nhũng có những dấu hiệu pháp lý đặc trưng, giúp phân biệt chúng với các loại tội phạm khác. Các dấu hiệu này bao gồm chủ thể của tội phạm, hành vi khách quan, lỗi và mục đích phạm tội. Hình phạt áp dụng đối với các tội phạm tham nhũng cũng rất đa dạng, từ phạt tiền, cải tạo không giam giữ đến tù chung thân hoặc tử hình, tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Việc xác định đúng các dấu hiệu pháp lý và áp dụng hình phạt phù hợp là rất quan trọng để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng.

3.1. Các Dấu Hiệu Pháp Lý Đặc Trưng Của Tội Phạm Tham Nhũng

Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm tham nhũng bao gồm: (1) Chủ thể của tội phạm phải là người có chức vụ, quyền hạn; (2) Hành vi phạm tội phải được thực hiện trong khi thi hành công vụ; (3) Hành vi phạm tội phải xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức; (4) Người phạm tội phải có lỗi cố ý trực tiếp; (5) Mục đích của hành vi phạm tội là vụ lợi. Việc xác định đầy đủ và chính xác các dấu hiệu này là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

3.2. Hình Phạt Áp Dụng Đối Với Các Tội Phạm Tham Nhũng

Hình phạt áp dụng đối với các tội phạm tham nhũng được quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự. Các hình phạt này bao gồm: (1) Phạt tiền; (2) Cải tạo không giam giữ; (3) Tù có thời hạn; (4) Tù chung thân; (5) Tử hình. Mức hình phạt cụ thể được quyết định dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung, như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.

IV. Thực Tiễn Xét Xử Tội Phạm Tham Nhũng Tại Tỉnh Nam Định

Thực tiễn xét xử các tội phạm tham nhũng trên địa bàn tỉnh Nam Định cho thấy tình hình tham nhũng vẫn còn diễn biến phức tạp, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Các cơ quan chức năng đã tăng cường công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, góp phần răn đe, phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật, đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng.

4.1. Khái Quát Tình Hình Xét Xử Tội Phạm Tham Nhũng Trên Cả Nước

Tình hình xét xử tội phạm tham nhũng trên cả nước cho thấy số lượng các vụ án tham nhũng được phát hiện và xử lý ngày càng tăng. Các hành vi tham nhũng ngày càng tinh vi, phức tạp, gây thiệt hại lớn cho Nhà nước và xã hội. Các cơ quan chức năng đã tăng cường phối hợp để điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng một cách nghiêm minh, đúng pháp luật. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong công tác phòng, chống tham nhũng, đòi hỏi phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

4.2. Thực Tiễn Xét Xử Tội Phạm Tham Nhũng Tại Tỉnh Nam Định

Tại tỉnh Nam Định, tình hình xét xử tội phạm tham nhũng cũng tương tự như trên cả nước. Các vụ án tham nhũng được phát hiện và xử lý thường liên quan đến các lĩnh vực như quản lý đất đai, đầu tư xây dựng, tài chính ngân hàng. Các hành vi tham nhũng thường là tham ô tài sản, nhận hối lộ, lạm dụng chức vụ, quyền hạn. Các cơ quan chức năng đã tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

4.3. Nguyên Nhân Tồn Tại Trong Áp Dụng Quy Định Về Tham Nhũng

Việc áp dụng các quy định về tội phạm tham nhũng trong Bộ luật Hình sự năm 1999 vẫn còn tồn tại một số hạn chế và thiếu sót. Một số quy định còn chung chung, khó áp dụng vào thực tế. Công tác điều tra, thu thập chứng cứ trong các vụ án tham nhũng còn gặp nhiều khó khăn. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một số cán bộ tư pháp còn hạn chế. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong công tác phòng, chống tham nhũng chưa thực sự hiệu quả.

V. Giải Pháp Hoàn Thiện Quy Định Về Tội Phạm Tham Nhũng

Để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự về tội phạm tham nhũng. Cần sửa đổi, bổ sung các quy định còn chung chung, chưa rõ ràng, đồng thời bổ sung các quy định mới để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới. Cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, công chức và người dân.

5.1. Kiến Nghị Sửa Đổi Bổ Sung Quy Định Về Tội Phạm Tham Nhũng

Cần sửa đổi, bổ sung các quy định về tội phạm tham nhũng trong Bộ luật Hình sự để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng và khả thi. Cần quy định cụ thể hơn về các hành vi tham nhũng, các yếu tố cấu thành tội phạm và các hình phạt áp dụng. Cần bổ sung các quy định mới để xử lý các hành vi tham nhũng mới phát sinh trong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay.

5.2. Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Áp Dụng Quy Định Về Tham Nhũng

Để nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về tội phạm tham nhũng, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: (1) Đổi mới phương thức đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ tư pháp; (2) Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra, Tòa án; (3) Thực hiện tốt cơ chế kiểm soát, giám sát quyền lực; xử lý nghiêm minh và đãi ngộ hợp lý.

VI. Tăng Cường Phòng Chống Tham Nhũng Tại Tỉnh Nam Định

Để tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng tại tỉnh Nam Định, cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cán bộ, công chức. Cần khuyến khích người dân tham gia tố cáo các hành vi tham nhũng. Cần xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

6.1. Vai Trò Của Báo Chí Và Người Dân Trong Phòng Chống Tham Nhũng

Báo chí và người dân đóng vai trò quan trọng trong công tác phòng, chống tham nhũng. Báo chí có trách nhiệm phản ánh trung thực, khách quan tình hình tham nhũng và các biện pháp phòng, chống tham nhũng. Người dân có quyền tố cáo các hành vi tham nhũng và được bảo vệ khi tố cáo. Cần tạo điều kiện để báo chí và người dân tham gia tích cực vào công tác phòng, chống tham nhũng.

6.2. Cơ Chế Bảo Vệ Người Tố Cáo Tham Nhũng

Cần có cơ chế bảo vệ hiệu quả người tố cáo tham nhũng để khuyến khích người dân tham gia tố cáo. Cơ chế này phải đảm bảo bí mật thông tin của người tố cáo, bảo vệ họ khỏi bị trả thù, trù dập và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của họ. Cần xử lý nghiêm các hành vi trả thù, trù dập người tố cáo tham nhũng.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ các tội phạm tham nhũng theo luật hình sự việt nam trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh nam định

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I - Hộ dịch, Quyển VI) quy định: “Phàm các quan ty sai khiến dân sở tại làm việc riêng cho mình và quan giám công sai dân thợ làm việc riêng cho mình ở nơi xa ngoài 100 d m ho c sai khiến lâu ngày ở nhà mình, thì đối v i quan ti cứ sai khiến 1 tên dân là bị xử đánh 40 roi, cứ 5 tên lại tăng thêm một mức, tội n ng nhất cũng ch đánh 80 trượng…”. Tiếp đến, c việc gây khó dễ ở cửa quan, bến đò cũng bị xử lý nghiêm khắc. Điều 3 (Chương III - Quan i, Quyển XI) quy định: “Người và thuyền bè qua lại nơi cửa quan, bến đò mà thủ bá không lập tức xét hỏi, kiểm tra rồi quan đi qua mà vô c gây cản trở, thì cứ chậm một ngày bị xử phạt 20 roi, thêm một ngày thì xử tăng một mức, tội ch t i mức 50 roi. Nếu nhận hối lộ thì chiếu theo lệ quan lại làm việc nhận hối lộ thì người hữu sự, luận tội uổngpháp, tính theo số tang vật mà xử tội.

Đặc biệt, để phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực, tham ô, Bộ luật còn quy định tại Ðiều 5 - Tậu ruộng đất, nhà cửa ở khu vực mình cai qu n (Chương II - Ruộng đất, Quyển VI) nêu rõ: “Phàm quan lại đương chức không được mua tậu ruộng đất, nhà cửa ở khu vực mình cai quản. Nếu vi phạm, xử phạt 50 roi, bãi nhiệm, ruộng đất nhà cửa đem sung công”; Điều 7 - Vay mượn riêng tiền lương của công (Chương IV - Kho tàng, Quyển VIII) quy định: “Phàm giám thủ, chủ thủ đem các loại tiền lương của Nhà nư c mượn riêng ho c chuyển cho người khác vay mượn, tuy có văn tự, đều bị tính theo tang vật mà xử vào tội giám thủ tự lấy trộm. Nếu đem đồ vật của mình 16 z thay thế đổi lấy đồ vật của Nhà nư c thì cũng xử tội như thế. Đồ vật của riêng đó đem sung công.

Tóm lại, trong xã hội phong kiến Việt Nam, việc đấu tranh phòng, chống tội phạm chức vụ và các tội phạm về tham nhũng đã được các triều đình quan tâm sâu sắc. Mặc dù pháp luật phong kiến quy định về các tội phạm mà đối tượng là quan lại hoặc những người có chức sắc nhất định có thể còn chứa đựng sự bất công, phân biệt đẳng cấp (về sau đặc biệt là trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược) hoặc chịu nh hưởng chi phối của pháp luật Trung Hoa nhưng cơ b n đã đạt được các thành tựu nhất định trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực mà những điểm tiến bộ của chúng có thể kế thừa để hoàn thiện pháp luật (hình sự) Việt Nam hiện đại. iai đoạn từ sau Cách mạng háng ám n m 1 45 đ n tr c khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam n m 1 85 Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Nhận thức rõ muốn xây dựng được chính quyền trong sạch, vững mạnh và củng cố nền độc lập vừa giành được thì ph i chú trọng việc ngăn chặn tệ nạn tham nhũng và các tội phạm về tham nhũng, b o vệ tài s n xã hội chủ nghĩa, tài s n của nhân dân, Đ ng và Nhà nước ta đã sớm ban hành nhiều văn b n pháp luật quy định và trừng phạt các hành vi tham nhũng.

Trước khi có một Bộ luật hình sự năm 1985, ph i kể đến một số các văn b n tiêu biểu có quy định trực tiếp hoặc gián tiếp các tội phạm về tham nhũng như: Sắc lệnh 267/SL ngày 15/6/1946 quy định trừng trị những âm mưu và hoạt động phá hoại tài s n của Nhà nước, của hợp tác xã và của nhân dân làm c n trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch của Nhà nước; Sắc lệnh số 223/SL ngày 27/11/1946 về trừng trị các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ; Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm phạm tài s n xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm phạm tài s n riêng của công dân được ban hành ngày 21/10/1970; Sắc luật 267/SL ngày 15/5/1956 về tội 17 z cố ý làm trái công tác phụ trách gây hậu qu nghiêm trọng; Sắc luật số 001/SL ngày 19/4/1957 về cấm mọi hành vi đầu cơ kinh tế; Quyết định số 550/QĐ-TTg ngày 16/02/1971 của Thủ tướng Chính phủ về việc nghiêm cấm lập quỹ trái phép trong các xí nghiệp và các cơ quan Nhà nước; Pháp lệnh trừng trị các tội hối lộ được ban hành ngày 20/5/1981.Trong đó, Sắc lệnh số 223/SL ngày 27/11/1946 về trừng trị các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ là văn b n pháp luật đầu tiên tập trung quy định riêng về tội phạm tham nhũng của Nhà nước ta. Mặc dù được ban hành khi Nhà nước non trẻ mới ra đời một năm nhưng Sắc lệnh này đã có nhiều điểm tiến bộ đáng ghi nhận như: Một là, Sắc lệnh quy định và trừng phạt hai dạng hành vi cơ b n liên quan đến tham nhũng: hối lộ (đưa, nhận hối lộ) và tham ô (phù lạm, biển thủ). Điều 1 Sắc lệnh quy định: “Tội đưa hối lộ cho công chức, tội công chức nhận hối lộ ho c phù lạm, biển thủ công quỹ hay của công dân đều bị phạt khổ sai t năm đến hai mươi năm và phạt bạc gấp đôi tang vật hối lộ, phù lạm hay biển thủ; tang vật hối lộ bị tịch thu sung công; người phạm tội có thể bị xử tịch thu nhiều nhất là đến ba phần tư gia sản; các đồng phạm và tòng phạm cũng bị phạt như trên” [24, tr 45]. Hai là, Sắc lệnh đã xác định một cách rõ ràng về chủ thể của các tội phạm về tham nhũng.

Điều 3 Sắc lệnh này quy định: “Đối v i tội trên, công chức còn gồm nhân viên Chính phủ, trong Ủy ban hành chính các cấp, các cơ quan do nhân dân bầu lên, trong bộ đội và tất cả những người phụ trách một công vụ”. Như vậy, chủ thể của tội phạm về tham nhũng khá rộng, là cán bộ, công chức và có thể là bất kỳ ai có chức vụ, quyền hạn. Ba là, các hình phạt được quy định hợp lý và hiệu qu. Hình phạt ở đây vừa thể hiện tính nghiêm khắc vừa có tinh thần nhân đạo, lại phù hợp với đặc thù của tội phạm về tham nhũng.

Hình phạt cao nhất đối với các tội phạm này có thể lên đến 20 năm tù khổ sai, thể hiện thái độ đấu tranh kiên quyết và không khoan nhượng của Nhà nước. Các hình phạt mang nặng tính kinh tế rất phù hợp để thu hồi tài s n thất thoát do tham nhũng. Tuy nhiên, quy định “tịch thu nhiều nhất là đến ba phần tư gia sản” của người 18 z phạm tội lại thể hiện tính nhân văn sâu sắc của chế độ dân chủ mới (để lại một phần tư gia s n có thể b o đ m cuộc sống cho những người phụ thuộc). Bốn là, Sắc lệnh đã thể hiện sự phân hóa trách nhiệm hình sự sâu sắc trong đường lối xử lý - phân biệt người đưa hối lộ chủ động hay bị bắt ép; khoan hồng đối với những người tự thú, tố giác đồng bọn.

Theo đó, Điều 2 Sắc lệnh này quy định: “Người phạm tội đưa hối lộ cho một công chức mà tự ý cáo giác cho nhà chức trách việc hối lộ ấy và chứng minh rằng đưa hối lộ là vì bị công chức cưỡng bách ư c hứa hay là dùng cách trá ngụy thì người ấy được miễn hết các tội. Trong trường hợp này, tang vật hối lộ được hoàn lại”. Do đó, với những ưu điểm đã nêu, có thể khẳng định “đạo luật” đầu tiên về các tội tham nhũng với vẻn vẹn 300 từ của Nhà nước ta cho đến nay vẫn còn nguyên những giá trị xứng đáng để kế thừa 24 [48]. Sau Sắc lệnh số 223/SL ngày 27/11/1946, các văn b n pháp luật khác cũng tiếp tục đề cập đến một số hành vi phạm tội liên quan đến chức vụ.

Tuy nhiên, chỉ đến Pháp lệnh trừng trị các tội hối lộ ngày 20/5/1981 thì các tội phạm về tham nhũng mới được tập trung điều chỉnh một cách hệ thống. Trong Pháp lệnh, lần đầu tiên tội nhận và đưa hối lộ được quy định độc lập với nhau, hành vi môi giới hối lộ cũng được đề cập tới. Điều 1 Pháp lệnh đã xác định: “Tội hối lộ bao gồm nhận hối lộ, đưa hối lộ và môi gi i hối lộ”. Sau đó, Điều 2 Pháp lệnh xác định hành vi nhận hối lộ; Điều 3 về hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ; Điều 4 về hành vi lợi dụng nh hưởng đối với người có chức, có quyền để phạm tội.

Đặc biệt, Pháp lệnh cũng thể hiện chính sách phân hóa rõ rệt trong xử lý tham nhũng. Điều 5 Pháp lệnh xác định sáu trường hợp cần xử nặng gồm: phạm tội hối lộ có tổ chức; phạm tội hối lộ nhiều lần; dùng thủ đoạn x o quyệt để thực hành hối lộ; của hối lộ có giá trị lớn; lợi dụng chức vụ cao để nhận hối lộ; phạm tội hối lộ gây hậu qu nghiêm trọng. Điều 8 quy định ba trường hợp miễn, gi m trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt đối với những trường hợp phạm tội lần đầu, không nghiêm trọng; trường hợp trước khi bị phát giác đã chủ động khai báo, giao 19 z nộp của hối lộ và trường hợp sau khi bị phát giác tỏ ra thành thực hối c i, khai rơ sự việc… Đặc biệt, Điều 9 Pháp lệnh quy định: “Người bị ép buộc đưa hối lộ, nếu chủ động khai báo trư c khi bị phát giác thì được coi là không có tội”. Bên cạnh đó, Pháp lệnh còn có quy định khen và thưởng giá trị vật chất đối với người tố giác, giúp đỡ cơ quan chức năng đấu tranh chống lại hành vi hối lộ (Điều 12).

Những quy định này có ý nghĩa rất quan trọng nhằm khuyến khích phát hiện, đấu tranh và xử lý kịp thời các tội phạm về tham nhũng - loại tội phạm có tỷ lệ ẩn rất cao [22, tr 10]. Bên cạnh những thành tựu nêu trên, quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm tham nhũng trong thời kỳ từ năm 1945 đến trước năm 1985 còn một số hạn chế như: Các tội phạm về tham nhũng được quy định một cách gi n đơn, gộp nhiều hành vi vào một tội, các dấu hiệu của cấu thành tội phạm chưa được mô t cụ thể, rõ ràng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Các Tội Phạm Tham Nhũng Theo Luật Hình Sự Việt Nam Tại Tỉnh Nam Định" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các loại tội phạm tham nhũng theo quy định của pháp luật hình sự tại tỉnh Nam Định. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các hình thức tham nhũng phổ biến mà còn chỉ ra những hậu quả nghiêm trọng mà chúng gây ra cho xã hội và nền kinh tế. Bên cạnh đó, tài liệu cũng đề xuất các biện pháp phòng chống hiệu quả nhằm nâng cao ý thức pháp luật trong cộng đồng.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Các tội phạm tham nhũng theo luật hình sự việt nam trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh nam định, nơi cung cấp thông tin chi tiết hơn về các tội phạm tham nhũng tại địa phương. Ngoài ra, tài liệu Các tội phạm tham nhũng trong luật hình sự việt nam trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk cũng sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về tình hình tham nhũng trên toàn quốc. Cuối cùng, tài liệu Xây dựng ý thức pháp luật cho nông dân qua thực tiễn tỉnh nam định sẽ cung cấp những thông tin hữu ích về việc nâng cao nhận thức pháp luật trong cộng đồng nông dân, góp phần vào công cuộc phòng chống tham nhũng.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các khía cạnh khác nhau của tham nhũng và các biện pháp phòng chống hiệu quả.