Chương I - Hộ dịch, Quyển VI) quy định: “Phàm các quan ty sai khiến dân sở tại làm việc riêng cho mình và quan giám công sai dân thợ làm việc riêng cho mình ở nơi xa ngoài 100 d m ho c sai khiến lâu ngày ở nhà mình, thì đối v i quan ti cứ sai khiến 1 tên dân là bị xử đánh 40 roi, cứ 5 tên lại tăng thêm một mức, tội n ng nhất cũng ch đánh 80 trượng…”. Tiếp đến, c việc gây khó dễ ở cửa quan, bến đò cũng bị xử lý nghiêm khắc. Điều 3 (Chương III - Quan i, Quyển XI) quy định: “Người và thuyền bè qua lại nơi cửa quan, bến đò mà thủ bá không lập tức xét hỏi, kiểm tra rồi quan đi qua mà vô c gây cản trở, thì cứ chậm một ngày bị xử phạt 20 roi, thêm một ngày thì xử tăng một mức, tội ch t i mức 50 roi. Nếu nhận hối lộ thì chiếu theo lệ quan lại làm việc nhận hối lộ thì người hữu sự, luận tội uổngpháp, tính theo số tang vật mà xử tội.
Đặc biệt, để phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực, tham ô, Bộ luật còn quy định tại Ðiều 5 - Tậu ruộng đất, nhà cửa ở khu vực mình cai qu n (Chương II - Ruộng đất, Quyển VI) nêu rõ: “Phàm quan lại đương chức không được mua tậu ruộng đất, nhà cửa ở khu vực mình cai quản. Nếu vi phạm, xử phạt 50 roi, bãi nhiệm, ruộng đất nhà cửa đem sung công”; Điều 7 - Vay mượn riêng tiền lương của công (Chương IV - Kho tàng, Quyển VIII) quy định: “Phàm giám thủ, chủ thủ đem các loại tiền lương của Nhà nư c mượn riêng ho c chuyển cho người khác vay mượn, tuy có văn tự, đều bị tính theo tang vật mà xử vào tội giám thủ tự lấy trộm. Nếu đem đồ vật của mình 16 z thay thế đổi lấy đồ vật của Nhà nư c thì cũng xử tội như thế. Đồ vật của riêng đó đem sung công.
Tóm lại, trong xã hội phong kiến Việt Nam, việc đấu tranh phòng, chống tội phạm chức vụ và các tội phạm về tham nhũng đã được các triều đình quan tâm sâu sắc. Mặc dù pháp luật phong kiến quy định về các tội phạm mà đối tượng là quan lại hoặc những người có chức sắc nhất định có thể còn chứa đựng sự bất công, phân biệt đẳng cấp (về sau đặc biệt là trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược) hoặc chịu nh hưởng chi phối của pháp luật Trung Hoa nhưng cơ b n đã đạt được các thành tựu nhất định trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực mà những điểm tiến bộ của chúng có thể kế thừa để hoàn thiện pháp luật (hình sự) Việt Nam hiện đại. iai đoạn từ sau Cách mạng háng ám n m 1 45 đ n tr c khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam n m 1 85 Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Nhận thức rõ muốn xây dựng được chính quyền trong sạch, vững mạnh và củng cố nền độc lập vừa giành được thì ph i chú trọng việc ngăn chặn tệ nạn tham nhũng và các tội phạm về tham nhũng, b o vệ tài s n xã hội chủ nghĩa, tài s n của nhân dân, Đ ng và Nhà nước ta đã sớm ban hành nhiều văn b n pháp luật quy định và trừng phạt các hành vi tham nhũng.
Trước khi có một Bộ luật hình sự năm 1985, ph i kể đến một số các văn b n tiêu biểu có quy định trực tiếp hoặc gián tiếp các tội phạm về tham nhũng như: Sắc lệnh 267/SL ngày 15/6/1946 quy định trừng trị những âm mưu và hoạt động phá hoại tài s n của Nhà nước, của hợp tác xã và của nhân dân làm c n trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch của Nhà nước; Sắc lệnh số 223/SL ngày 27/11/1946 về trừng trị các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ; Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm phạm tài s n xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm phạm tài s n riêng của công dân được ban hành ngày 21/10/1970; Sắc luật 267/SL ngày 15/5/1956 về tội 17 z cố ý làm trái công tác phụ trách gây hậu qu nghiêm trọng; Sắc luật số 001/SL ngày 19/4/1957 về cấm mọi hành vi đầu cơ kinh tế; Quyết định số 550/QĐ-TTg ngày 16/02/1971 của Thủ tướng Chính phủ về việc nghiêm cấm lập quỹ trái phép trong các xí nghiệp và các cơ quan Nhà nước; Pháp lệnh trừng trị các tội hối lộ được ban hành ngày 20/5/1981.Trong đó, Sắc lệnh số 223/SL ngày 27/11/1946 về trừng trị các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ là văn b n pháp luật đầu tiên tập trung quy định riêng về tội phạm tham nhũng của Nhà nước ta. Mặc dù được ban hành khi Nhà nước non trẻ mới ra đời một năm nhưng Sắc lệnh này đã có nhiều điểm tiến bộ đáng ghi nhận như: Một là, Sắc lệnh quy định và trừng phạt hai dạng hành vi cơ b n liên quan đến tham nhũng: hối lộ (đưa, nhận hối lộ) và tham ô (phù lạm, biển thủ). Điều 1 Sắc lệnh quy định: “Tội đưa hối lộ cho công chức, tội công chức nhận hối lộ ho c phù lạm, biển thủ công quỹ hay của công dân đều bị phạt khổ sai t năm đến hai mươi năm và phạt bạc gấp đôi tang vật hối lộ, phù lạm hay biển thủ; tang vật hối lộ bị tịch thu sung công; người phạm tội có thể bị xử tịch thu nhiều nhất là đến ba phần tư gia sản; các đồng phạm và tòng phạm cũng bị phạt như trên” [24, tr 45]. Hai là, Sắc lệnh đã xác định một cách rõ ràng về chủ thể của các tội phạm về tham nhũng.
Điều 3 Sắc lệnh này quy định: “Đối v i tội trên, công chức còn gồm nhân viên Chính phủ, trong Ủy ban hành chính các cấp, các cơ quan do nhân dân bầu lên, trong bộ đội và tất cả những người phụ trách một công vụ”. Như vậy, chủ thể của tội phạm về tham nhũng khá rộng, là cán bộ, công chức và có thể là bất kỳ ai có chức vụ, quyền hạn. Ba là, các hình phạt được quy định hợp lý và hiệu qu. Hình phạt ở đây vừa thể hiện tính nghiêm khắc vừa có tinh thần nhân đạo, lại phù hợp với đặc thù của tội phạm về tham nhũng.
Hình phạt cao nhất đối với các tội phạm này có thể lên đến 20 năm tù khổ sai, thể hiện thái độ đấu tranh kiên quyết và không khoan nhượng của Nhà nước. Các hình phạt mang nặng tính kinh tế rất phù hợp để thu hồi tài s n thất thoát do tham nhũng. Tuy nhiên, quy định “tịch thu nhiều nhất là đến ba phần tư gia sản” của người 18 z phạm tội lại thể hiện tính nhân văn sâu sắc của chế độ dân chủ mới (để lại một phần tư gia s n có thể b o đ m cuộc sống cho những người phụ thuộc). Bốn là, Sắc lệnh đã thể hiện sự phân hóa trách nhiệm hình sự sâu sắc trong đường lối xử lý - phân biệt người đưa hối lộ chủ động hay bị bắt ép; khoan hồng đối với những người tự thú, tố giác đồng bọn.
Theo đó, Điều 2 Sắc lệnh này quy định: “Người phạm tội đưa hối lộ cho một công chức mà tự ý cáo giác cho nhà chức trách việc hối lộ ấy và chứng minh rằng đưa hối lộ là vì bị công chức cưỡng bách ư c hứa hay là dùng cách trá ngụy thì người ấy được miễn hết các tội. Trong trường hợp này, tang vật hối lộ được hoàn lại”. Do đó, với những ưu điểm đã nêu, có thể khẳng định “đạo luật” đầu tiên về các tội tham nhũng với vẻn vẹn 300 từ của Nhà nước ta cho đến nay vẫn còn nguyên những giá trị xứng đáng để kế thừa 24 [48]. Sau Sắc lệnh số 223/SL ngày 27/11/1946, các văn b n pháp luật khác cũng tiếp tục đề cập đến một số hành vi phạm tội liên quan đến chức vụ.
Tuy nhiên, chỉ đến Pháp lệnh trừng trị các tội hối lộ ngày 20/5/1981 thì các tội phạm về tham nhũng mới được tập trung điều chỉnh một cách hệ thống. Trong Pháp lệnh, lần đầu tiên tội nhận và đưa hối lộ được quy định độc lập với nhau, hành vi môi giới hối lộ cũng được đề cập tới. Điều 1 Pháp lệnh đã xác định: “Tội hối lộ bao gồm nhận hối lộ, đưa hối lộ và môi gi i hối lộ”. Sau đó, Điều 2 Pháp lệnh xác định hành vi nhận hối lộ; Điều 3 về hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ; Điều 4 về hành vi lợi dụng nh hưởng đối với người có chức, có quyền để phạm tội.
Đặc biệt, Pháp lệnh cũng thể hiện chính sách phân hóa rõ rệt trong xử lý tham nhũng. Điều 5 Pháp lệnh xác định sáu trường hợp cần xử nặng gồm: phạm tội hối lộ có tổ chức; phạm tội hối lộ nhiều lần; dùng thủ đoạn x o quyệt để thực hành hối lộ; của hối lộ có giá trị lớn; lợi dụng chức vụ cao để nhận hối lộ; phạm tội hối lộ gây hậu qu nghiêm trọng. Điều 8 quy định ba trường hợp miễn, gi m trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt đối với những trường hợp phạm tội lần đầu, không nghiêm trọng; trường hợp trước khi bị phát giác đã chủ động khai báo, giao 19 z nộp của hối lộ và trường hợp sau khi bị phát giác tỏ ra thành thực hối c i, khai rơ sự việc… Đặc biệt, Điều 9 Pháp lệnh quy định: “Người bị ép buộc đưa hối lộ, nếu chủ động khai báo trư c khi bị phát giác thì được coi là không có tội”. Bên cạnh đó, Pháp lệnh còn có quy định khen và thưởng giá trị vật chất đối với người tố giác, giúp đỡ cơ quan chức năng đấu tranh chống lại hành vi hối lộ (Điều 12).
Những quy định này có ý nghĩa rất quan trọng nhằm khuyến khích phát hiện, đấu tranh và xử lý kịp thời các tội phạm về tham nhũng - loại tội phạm có tỷ lệ ẩn rất cao [22, tr 10]. Bên cạnh những thành tựu nêu trên, quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm tham nhũng trong thời kỳ từ năm 1945 đến trước năm 1985 còn một số hạn chế như: Các tội phạm về tham nhũng được quy định một cách gi n đơn, gộp nhiều hành vi vào một tội, các dấu hiệu của cấu thành tội phạm chưa được mô t cụ thể, rõ ràng.