CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong quá trình thiết kế và thực hiện nghiên cứu, nhóm tác giả đã tiến hành tìm hiểu và đưa ra những đánh giá khái quát tình hình nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế chia sẻ nói chung và dịch vụ cho thuê lao động giúp việc nhà theo giờ nói riêng trên thế giới và tại Việt Nam. Tình hình nghiên cứu trên thế giới: Nghiên cứu của Hawlitschek và cộng sự (2016) “Understanding the Sharing Economy - Drivers and Impediments for Participation in Peer-to-Peer Rental” (Tạm dịch: Hiểu về kinh tế chia sẻ - những động lực và rào cản khi tham gia cho thuê từ cá nhân đến cá nhân - P2P).
Dựa trên việc tiến hành khảo sát lần lượt các chuyên gia và người tiêu dùng, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra và đo lường những nhân tố thúc đẩy và cản trở ý định tham gia các hình thức cho thuê trên nền tảng chia sẻ. Các nhân tố này có mức độ ảnh hưởng khác nhau từ phía người tiêu dùng và người cho thuê, tuy nhiên nghiên cứu còn chưa thấu đáo khi mới chỉ liệt kê các nhân tố chứ chưa tạo nhóm, và câu hỏi khảo sát chưa được tùy chỉnh cho từng đối tượng cụ thể là người cho thuê và người tiêu dùng. Nghiên cứu của Hamari và cộng sự (2015) “The Sharing Economy: Why People Participate in Collaborative Consumption” (Tạm dịch: Kinh tế chia sẻ: Vì sao mọi người tham gia tiêu dùng cộng tác). Áp dụng lý thuyết tự quyết định (Self-determination Theory), nhóm tác giả đã phân chia các động lực tham gia chia sẻ thành hai nhóm: động lực từ bên trong (niềm vui thích, tính bền vững cảm nhận) và động lực từ bên ngoài (danh tiếng, lợi ích kinh tế).
Sau khi phân tích kết quả dựa trên dữ liệu khảo sát 168 đối tượng khách hàng, một số kết luận đáng chú ý được rút ra từ nhóm nghiên cứu là: (1) niềm vui thích, danh tiếng và lợi ích kinh tế là những nhân tố tác động tích cực đến ý định chia sẻ, trong khi đó (2) tính bền vững chỉ tác động tích cực đến ý định tham gia khi nó có tác động đến thái độ, điều này hàm ý tính bền vững là động lực quan trọng đối với nhóm người quan tâm đến tiêu dùng sinh thái; (3) có thể tồn tại sự khác biệt nhất định giữa thái độ và ý định tham gia nền tảng chia sẻ - thái độ tích cực chưa chắc sẽ chuyển thành ý định tham gia chia sẻ. Đề tài: “What drives customers to continue using ride-sharing apps during the COVID-19 pandemic” (Tạm dịch: Nhân tố tác động ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ đi chung xe của khách hàng trong thời kỳ đại dịch hoạt động trên mô hình kinh tế chia sẻ. 16 của Hazem Rasheed Gaber1, Ahmed Mousa Elsamadicy. Sự bùng phát của đại dịch COVID-19 đã gây ra những thay đổi lớn trong nhận thức và thái độ của khách hàng đối với các ứng dụng chia sẻ chuyến đi.
Mục đích của bài nghiên cứu là xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ đi chung xe của khách hàng trong thời kỳ đại dịch hoạt động trên mô hình kinh tế chia sẻ. Một mô hình đã được phát triển dựa trên lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) và tổng quan tài liệu sâu rộng. Mô hình phương trình cấu trúc bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS- SEM) đã được sử dụng để kiểm tra và xác nhận mô hình đề xuất. Phát hiện cho thấy ý định tiếp tục sử dụng các ứng dụng chia sẻ xe của khách hàng trong thời kỳ đại dịch bị ảnh hưởng bởi bốn nhân tố là: kỳ vọng về hiệu suất, lợi ích kinh tế, điều kiện thuận lợi và ảnh hưởng xã hội.
Nó chỉ ra rằng kỳ vọng nỗ lực của khách hàng, nhận thức về khả năng lây nhiễm và nỗi sợ hãi về COVID-19 không ảnh hưởng đến ý định sử dụng các dịch vụ này của họ. Bài viết đóng góp bằng cách kiểm tra UTAUT trong bối cảnh các ứng dụng chia sẻ chuyến đi trong thời kỳ đại dịch. Nó cung cấp một số hướng dẫn mà các công ty cung cấp dịch vụ chia sẻ chuyến đi phải tuân theo để giúp họ tồn tại trước những thách thức lớn mà họ phải đối mặt trong đại dịch. Đề tài “Study on consumer Decision Making Process in the selection of Home Cleaning Company” của nhóm tác giả Hussain, Mudassar (2017) đã chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến hành vi của người tiêu dùng trong việc lựa chọn dịch vụ vệ sinh nhà cửa.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố bao gồm: (1) Yếu tố văn hóa, (2) Yếu tố xã hội, (3) Yếu tố cá nhân và (4) Yếu tố tâm lý ảnh hưởng có tác động đến quá trình quyết định sử dụng dịch vụ dọn dẹp nhà cửa. Có thể thấy các yếu tố xã hội, yếu tố cá nhân có tác động lớn đến việc khách hàng sử dụng dịch vụ dọn dẹp. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam: Nghiên cứu của Nguyễn Phan Anh (2016) - Trường Đại học Thương Mại “Mô hình nền kinh tế chia sẻ và gợi ý cho Việt Nam”. Từ thực trạng phát triển của nền kinh tế chia sẻ trên thế giới, tác giả đã đưa ra những lý luận chung nhất về khái niệm, quá trình hình thành và cả lợi ích - bất cập của các mô hình chia sẻ.
Dựa trên những phân tích trên thế giới và tại Việt Nam, tác giả đề xuất một số gợi ý cho nhà nước (quản lý, hành lang pháp lý, cơ sở hạ tầng Internet) và cả doanh nghiệp (vận hành, nhân lực). Đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ngăn cản ý định sử dụng kinh tế chia sẻ tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Hiền (2021) đã mở rộng lý thuyết kháng cự đổi mới (IRT) để xem xét các yếu tố là rào cản đối với ý định sử dụng kinh tế chia sẻ tại Việt Nam. Nghiên cứu tiến hành dựa trên mô hình với biến phụ thuộc là ý định sử dụng kinh tế chia sẻ và 6 biến độc lập bao gồm: rào cản sử dụng, rào cản giá trị, rủi ro về quyền riêng tư, rủi ro bảo mật và rào cản truyền thống và rào cản hình ảnh. Kết quả nghiên cứu 17 cho thấy rào cản sử dụng, rào cản giá trị, rủi ro về quyền riêng tư, rủi ro bảo mật và các rào cản truyền thống có tác động tiêu cực đến ý định sử dụng kinh tế chia sẻ.
Và không tồn tại mối tương quan nào giữa rào cản hình ảnh và ý định sử dụng kinh tế chia sẻ tại Việt Nam. Đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tin tưởng và ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ giao thực phẩm trên ứng dụng di động của người tiêu dùng” của nhóm tác giả Hoàng Thị Phương Thảo và Lâm Quí Long nhằm ứng dụng mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ mở rộng (UTAUT2) để phản ánh các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ giao thực phẩm trên Ứng Dụng Di Động thông qua biến trung gian là sự tin tưởng của Người Tiêu Dùng. Dựa trên cơ sở lý thuyết thì mô hình nghiên cứu được đề xuất bao gồm 17 mối quan hệ thể hiện các biến độc lập gồm có: kỳ vọng hiệu quả, kỳ vọng nỗ lực, ảnh hưởng xã hội, điều kiện thuận lợi, động lực thụ hưởng, giá trị giá cả, thói quen và chất lượng thông tin vừa tác động trực tiếp và gián tiếp đến biến phụ thuộc là ý định tiếp tục sử dụng thông qua biến trung gian sự tin tưởng của người tiêu dùng về dịch vụ giao hàng thực phẩm thông qua ứng dụng di động. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra 08 yếu tố có tác động đến ý định tiếp tục sử dụng ứng dụng đặt hàng thực phẩm gồm có: (1) kỳ vọng hiệu quả, (2) kỳ vọng nỗ lực, (3) ảnh hưởng xã hội, (4) điều kiện thuận lợi, (5) động lực thụ hưởng, (6) giá trị giá cả, (7) chất lượng thông tin và (8) sự tin tưởng.
Trong đó, 03 yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ giao hàng thực phẩm là giá trị giá cả, ảnh hưởng xã hội và sự tin tưởng. Đồng thời kết quả cũng cho thấy có 06 yếu tố cũng tác động tích cực đến sự tin tưởng của người tiêu dùng đối với ứng dụng gồm có: (1) kỳ vọng hiệu quả, (2) kỳ vọng nỗ lực, (3) ảnh hưởng xã hội, (4) điều kiện thuận lợi, (5) giá trị giá cả và (6) chất lượng thông tin. Đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng không gian làm việc chia sẻ trên nền tảng web ứng dụng CoGo hoạt động theo mô hình kinh tế chia sẻ của người đi làm trên địa bàn Hà Nội” của nhóm tác giả Phan Thị Thu Hương, Đoàn Phan Sơn, Hoàng Phú Cường của Trường Đại học Thương Mại thực hiện. Nghiên cứu kết hợp nhiều lý thuyết và xây dựng mô hình gồm biến phụ thuộc là “Ý định chia sẻ không gian làm việc” và 5 nhân tố độc lập là nhận thức tính hữu ích, nhận thức tính dễ sử dụng, động lực thụ hưởng, đổi mới cá nhân và giá cả.
Kết quả của nghiên cứu chỉ ra chỉ có 3/5 biến độc lập có tác động đến ý định chia sẻ ở trong nghiên cứu này, cụ thể bao gồm nhận thức tính hữu ích, tính dễ sử dụng và động lực thụ hưởng. Đề tài “Nhân tố tác động đến mức độ chấp nhận của khách hàng với ứng dụng giúp việc gia đình” của tác giả Trương Lê Thảo Nhi và Lê Phước Cửu Long (2021). Nghiên cứu nhằm xem xét các nhân tố tác động đến sự chấp nhận của khách hàng đối với các 18 ứng dụng giúp việc gia đình. Sử dụng cả hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, đề tài thực hiện nghiên cứu với biến phụ thuộc là mức độ chấp nhận của khách hàng và nghiên cứu 6 nhân tố tác động lên bao gồm: nhận thức tính hữu ích, nhận thức dễ sử dụng, nhận thức sự thích thú, nhận thức rủi ro, lượng thông tin của ứng dụng và bảo mật và sự riêng tư.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6/8 nhân tố tác động ở các mức độ khác nhau đến sự chấp thuận của khách hàng bao gồm: (1) Cảm nhận tính hữu ích, (2) Lượng thông tin về ứng dụng, (3) Cảm nhận sự thích thú, (4) Rủi ro cảm nhận, (5) Bảo mật và quyền riêng tư và (6) Cảm nhận sự dễ dàng sử dụng.