Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan và xác định khoảng trống nghiên cứu 5 Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VÀ XÁC ĐỊNH KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu về chuyển đổi và ý định chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ của người tiêu dùng Tiếp cận theo quá trình chuyển đổi • Mô hình chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ Những nghiên cứu theo hướng này giải thích ý định và hành vi chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ là một quá trình chuyển đổi phức tạp của người tiêu dùng.
Các tác giả đã sử dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) (Ajzen, 1991) để giải thích về quá trình chuyển đổi hành vi của người tiêu dùng. Mô hình SPSM là sự tích hợp các yếu tố cấu thành của chất lượng dịch vụ, sự hài lòng và các yếu tố khác được đề cập trong mô hình TPB để kiểm tra các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi hành vi của khách hàng. Sự tương tác của các biến trong TPB: giữa kiểm soát hành vi và thái độ đối với hành vi chuyển đổi; giữa thái độ đối hành vi chuyển đổi và chuẩn mực chủ quan được chứng minh là các yếu tố quan trọng để dự báo về ý định chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ của khách hàng (Bansal, H., 2002) Hạn chế của SPSM là dựa trên mô hình lý thuyết TPB, trong khi đó TPB chỉ xem xét các nhân tố nhận thức và bỏ qua nhiều nhân tố ảnh hưởng có thể gây ra sự hành vi chuyển đổi. Bên cạnh đó, SPSM còn bị giới hạn bởi một số rất ít các biến trung gian và kiểm soát có thể dẫn đến sự chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ của người tiêu dùng.
• Mô hình dịch chuyển Đẩy – Kéo – Giữ của việc chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ (PPM) Những nghiên cứu theo hướng này giải thích sự phức tạp của quá trình chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ của khách hàng dựa trên mô hình dịch chuyển Đẩy - Kéo – Giữ (PPM). Mô hình PPM đầu tiên được phát triển bởi H. James (2005), nghiên cứu này tìm hiểu khả năng ứng dụng mô hình di cư của con người từ các nghiên cứu về địa lý để giải thích hành vi chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ của người tiêu dùng. Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh PPM là mô hình lý thuyết toàn diện để giải thích quá trình chuyển đổi phức tạp của người tiêu dùng trong các bối cảnh dịch vụ khác nhau 7 (Ví dụ: lĩnh vực công nghệ thông tin, dịch vụ trực tuyến, dịch vụ viễn thông, dịch vụ hàng không…).
Một số nghiên cứu tiêu biểu và có giá trị như: Nghiên cứu Lui (2005) đã sử dụng mô hình PPM là cơ sở lý thuyết trong nghiên cứu về hành vi chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ viễn thông (dịch vụ viễn thông di động và dịch vụ truy cập internet) tại Hong Kong. Nghiên cứu được thực hiện qua bộ dữ liệu thu thập được từ hai loại dịch vụ CNTT đó là dịch vụ dữ liệu di động và dịch vụ truy cập Internet trong hai cuộc khảo sát được với kích thước mẫu là 7910 tại Hong Kong. Cả hai dịch vụ viễn thông được lựa chọn đều có các nhà cung cấp dịch vụ tương đối phong phú trên thị trường. Có 11 nhà khai thác di động và 10 nhà cung cấp dịch vụ internet ở Hồng Kông.
Kết quả nghiên cứu này cho thấy mô hình nghiên cứu được đề xuất là phù hợp và có giá trị, nhân tố đẩy bao gồm: sự hài lòng; nhận thức về giá, nhân tố kéo là nhận thức về sự hấp dẫn thay thế, nhân tố giữ bao gồm: nhận thức về chi phí chuyển đổi và nhận thức về giá trị gói dịch vụ, các nhân tố này để có tác động đáng kể đến ý định chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ của người tiêu dùng. Nghiên cứu của Zhang, K. O (2012) đã sử dụng mô hình PPM trong nghiên cứu về hành vi chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến (dịch vụ blog) của khách hàng. Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, kết quả của nghiên cứu này cho thấy: các nhân tố đẩy, kéo, và giữ liên quan đến việc chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ blog của khách hàng.
Sự hài lòng, giải pháp thay thế hấp dẫn, và chi phí chuyển đổi có thể ảnh hưởng đáng kể đến ý định chuyển đổi của các blogger. Không hài lòng với dịch vụ ổn định, hấp dẫn về tính năng, hấp dẫn trong dễ sử dụng, định mức mô tả được tìm thấy là những lý do phổ biến nhất khiến cho các khách hàng có hành vi chuyển đổi nhà cung cấp. Ý định chuyển đổi sẽ quyết định đến hành vi chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến của khách hàng. Elahe Kordi Ghasrodashti (2017) phát triển bằng cách sử dụng mô hình dịch chuyển Kéo - Đẩy - Neo của việc chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ (PPM) và lý thuyết hành động có kế hoạch của Ajzen (1991) để kiểm tra hành vi chuyển đổi thương hiệu của người tiêu dùng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các yếu tố giữ bao gồm thái độ đối với hành vi chuyển đổi, chi phí chuyển đổi và các chỉ tiêu chủ quan trực tuyến là những yếu tố dự báo đáng kể cho ý định và hành vi chuyển đổi thương hiệu của khách hàng. Ngoài ra, yếu tố kéo là sự hấp dẫn thay thế và có một yếu tố đẩy là giá tác động đến ý định và hành vi chuyển đổi thương hiệu. 8 Khi sử dụng mô hình PPM có thể giải thích tương đối đầy đủ về quá trình chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ của khách hàng. Nhưng các nghiên cứu trước đây ít đề cập tới tác động của những nhân tố về văn hóa và đặc điểm tính cách của người tiêu dùng tới hành vi chuyển đổi của họ.
Hơn nữa, trong các bối cảnh dịch vụ khác nhau thì các nhân tố đẩy, kéo, giữ sẽ khác nhau. Tiếp cận theo hướng nghiên cứu ba cấu thành trong cam kết của khách hàng Nghiên cứu của Bansal, H. (2004) đã cung cấp sự hiểu biết về ý định chuyển đổi của người tiêu dùng từ góc độ quan hệ, coi khách hàng như nhân viên trong công ty, mối quan hệ giữa khách hàng và nhà cung cấp được xây dựng trên cam kết. Cam kết là trạng thái tâm lý thể hiện mối quan hệ của khách hàng với nhà cung cấp và có tác động đến ý định chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ.
Dựa vào lý thuyết về cam kết với tổ chức của Meyer and Herscovitch (2001), Bansal, H. (2004) xác định ba thành phần cam kết bao gồm cam kết quy tắc, cam kết tình cảm và cam kết tiếp tục. Trong đó, cam kết quy tắc bị ảnh hưởng nhân tố chuẩn chủ quan; cam kết tình cảm bị ảnh hưởng bởi nhân tố sự hài lòng và niềm tin; cam kết tiếp tục bị ảnh hưởng bởi chi phí chuyển đổi và sự hấp dẫn của lựa chọn thay thế. Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, dữ liệu từ một cuộc khảo sát của 356 khách hàng dịch vụ sửa chữa tự động, Bansal, H.
(2004) cho rằng cam kết của khách hàng với nhà cung cấp dịch vụ có ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ và có tác động đến ý định chuyển đổi nhà cung cấp. Tiếp theo, nghiên cứu của Fullerton (2005) dựa trên mô hình 3 thành phần cam kết của Bansal, H. (2004) để làm rõ mối quan hệ của cam kết tình cảm và cam kết tiếp tục với ý định chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ của khách hàng. Kết quả nghiên cứu được rút ra từ một cuộc khảo sát của khách hàng trong ba loại dịch vụ (dịch vụ tài chính, dịch vụ bán lẻ hàng tạp hóa và các dịch vụ viễn thông): cam kết tình cảm có ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi và cam kết tình cảm cao thì khách hàng không có ý định chuyển đổi nhà cung cấp trong cả ba loại dịch vụ; cam kết tiếp tục có những ảnh hưởng khác nhau với ý định chuyển đổi trong ba loại dịch vụ; có một hiệu ứng tương tác giữa hai thành phần của cam kết, cam kết tiếp tục chán nản sẽ làm cho cam kết tình cảm thấp và khách hàng có ý định chuyển đổi nhà cung cấp.
Tiếp cận theo hướng xác định nguyên nhân dẫn đến hành vi chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ 9 S. Keaveney (1995) đã phát triển mô hình tổng quát về hành vi chuyển đổi dịch vụ của khách hàng. Đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên giải thích đầy đủ các nhân tố tác động và hậu quả của hành vi chuyển đổi nhà cung cấp của khách hàng trong ngành công nghiệp dịch vụ. Phương pháp nghiên cứu của S.
Keaveney (1995) được thực hiện bắt đầu bằng cách thu thập "các sự cố thực tế” đã gây ra cho khách hàng chuyển đổi dịch vụ trong khoảng thời gian là 6 tháng, kỹ thuật thu thập dữ liệu là kỹ thuật “Sự cố quan trọng” đã được áp dụng thành công cho việc nghiên cứu khách hàng. Keaveney (1995) đã xác định được tám nguyên nhân liên quan đến dịch vụ và phi dịch vụ gây ra kích thích chuyển đổi dịch vụ của khách hàng, với mỗi nguyên nhân được chi tiết thành các nguyên nhân cụ thể, đó là: giá cả; sự bất tiện; thiếu sót trong dịch vụ cốt lõi; thiếu sót trong việc tương tác bán hàng; tình huống bắt buộc; những vấn đề về thay đổi đạo đức; sự thu hút của đối thủ cạnh tranh; cách nhân viên phản ứng với lỗi dịch vụ. Hơn nữa, nghiên cứu của S. Keaveney (1995) cũng đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về hậu quả của việc chuyển đổi dịch vụ của khách hàng.
Hầu hết khách hàng chuyển đổi dịch vụ đều tìm đến nhà cung cấp mới và họ sẽ nói về sự thay đổi đó với ít nhất một người khác. Mô hình hành vi chuyển đổi dịch vụ của khách hàng của Keaveney (1995) đã được rất nhiều nghiên cứu về hành vi chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ sau đó khai thác và phát triển trong nhiều ngữ cảnh dịch vụ khác nhau.