Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tài liệu Rau sạch là vấn đề được nhắc đến trong nhiều bài nghiên cứu, sách, tạp chí đa ngành, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực thuộc khoa học tự nhiên như: sinh học, kỹ thuật, kinh tế, nông nghiệp, y học. Ngoài ra, vấn đề rau sạch cũng đã bước đầu được lĩnh vực khoa học xã hội quan tâm, trong đó có ngành dân tộc học/nhân học nhưng số lượng còn ở mức khiêm tốn. Những nghiên cứu trong các ngành: sinh học, kỹ thuật, nông nghiệp và y học sử dụng chủ yếu phương pháp nghiên cứu thí nghiệm thực (bao gồm trong phòng thí nghiệm và trong thực địa); riêng ngành kinh tế lại nặng về sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng.
Đặc biệt, ngành dân tộc học/nhân học sử dụng các phương pháp: nghiên cứu tài liệu nguyên gốc và thứ cấp, phỏng vấn bán cấu trúc, phỏng vấn sâu, phương pháp quan sát tham gia, phân tích định tính và định lượng; bao trùm lên là phương pháp điền dã dân tộc học. Trong các nghiên cứu trước đây liên quan tới chủ đề rau sạch, những nội dung cơ bản thường được đề cập tới bao gồm: (1) Tiêu chuẩn rau, củ, quả sạch; (2) Quy trình sản xuất rau, củ, quả sạch; (3) Điều tra, đánh giá thực trạng rau, củ, quả nhiễm bẩn; (4) Đề xuất một số biện pháp hạn chế rau, củ, quả nhiễm bẩn; (5) Nghiên cứu, thiết kế, sáng tạo ra các phương pháp làm sạch rau, củ, quả; (6) Đánh giá hiệu quả các biện pháp giảm thiểu rau, củ, quả nhiễm bẩn; (7) Lợi ích của nông nghiệp hữu cơ để phát triển bền vững; vai trò của tri thức địa phương; vai trò của các tổ chức xã hội dân sự, các tổ chức sản xuất, các mối quan hệ sản xuất và quan hệ xã hội cơ bản của người nông dân. Năm 2002, trong luận án tiến sĩ sinh học về “Đánh giá môi trường đất, 12 z nước, phân bón đến sản xuất rau sạch và mức độ thích nghi đất đai vùng quy hoạch rau sạch thành phố Hà Nội” của tác giả Nguyễn Xuân Thành đã chỉ ra nguyên nhân rau nhiễm bẩn ở Hà Nội, mức độ thích nghi của đất đai và khảo sát mô hình sản xuất rau sạch bằng phân hữu cơ chế biến từ rác thải thành phố [25]. Năm 2003, nhà nghiên cứu người Hàn Quốc - Cheang Hong bảo vệ luận án tiến sĩ nông nghiệp “Nghiên cứu ảnh hưởng của nước tưới, phân bón đến tồn dư NO3 và một số kim loại nặng trong rau trồng ở Hà Nội”.
Thông qua việc nghiên cứu ảnh hưởng, điều tra và đánh già tình trạng nhiễm NO3 và kim loại nặng trong trồng rau thương phẩm sản xuất tại hai huyện Thanh Trì và Đông Anh, tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm hạn chế tích lũy NO3 và kim loại nặng trong sản xuất nông nghiệp [5]. Cùng trong lĩnh vực nghiên cứu nông nghiệp, năm 2007, Nguyễn Thúy Hà bảo vệ luận án tiến sĩ với đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh vật trừ sâu hại rau họ thập tự trong sản xuất rau an toàn tại Thái Nguyên”1. Nghiên cứu này tập trung điều tra hiện trạng sản xuất về rau sạch ở Thái Nguyên, nghiên cứu chế phẩm vi sinh vật để phòng trừ sâu hại rau nhằm đạt năng suất cao, chất lượng tốt, tạo nguồn thực phẩm an toàn, bền vững và góp phần bảo vệ môi trường [12]. Năm 2009, luận án tiến sĩ kỹ thuật của Ngô Trí Dương với đề tài “Thiết kế hệ thống tự động hóa sản xuất rau sạch” nghiên cứu, thiết kế và chế tạo hệ thống tự động hóa quy trình sản xuất rau sạch không dùng đất với modun diện tích mặt 200 m2 trên nền vi điều khiển công nghệ PSoC (Programoble System on Chip) của hãng Cypress [8].
Năm 2010, luận án tiến sĩ kinh tế “Nghiên cứu biện pháp phát triển bền vững 1 Rau họ thập tự hay còn gọi là họ cải (tên tiếng Anh là “Brassicaceae”) có khoảng 20 loài ở Việt Nam (như: cải bắp, cải bẹ trắng, su hào, súp lơ, cải thảo. Họ này là những cây thân thảo, hoa có 4 cánh, đa số dùng làm rau ăn [35]. 13 z rau an toàn ở Hà Nội” của Đào Duy Tâm đã phân tích, đánh giá thực trạng, xác định yếu tố thúc đẩy và cản trở phát triển bền vững rau an toàn ở Hà Nội. Từ đó, tác giả đề xuất định hướng và giải pháp cho vấn đề hạn chế còn tồn tại [24].
Năm 2012, Đinh Thị Thanh Mai bảo vệ luận án tiến sĩ y học “Nghiên cứu ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng đường ruột ở rau, củ, quả ăn sống và đánh giá hiệu quả của một số biện pháp giảm thiểu mầm bệnh”. Trong nghiên cứu này, tác giả đánh giá thực trạng mầm bệnh ký sinh trùng đường ruột ở rau, củ, quả ăn sống phổ biến ở Hà Nội và Hải Phòng. Qua đó, luận án này đánh giá hiệu quả các biện pháp giảm thiểu vấn đề bằng ngâm rau, củ, quả trong sục ozone, nước muối NaCl, dung dịch thuốc tím KMnO4, nước vegy, rửa rau, củ, quả nhiều lần dưới vòi nước chảy, nhúng rau, củ, quả vào nước chanh, nước muối [17]. Về sách, tạp chí liên quan đến vấn đề rau sạch với số lượng khá lớn và nội dung khá phong phú.
Đó là hướng dẫn kỹ thuật trồng rau an toàn chia theo mùa, trường hợp áp dụng với một số loại rau, củ, quả cụ thể; tầm quan trọng của việc cấp giấy chứng nhận rau an toàn; đánh giá nhận thức và thái độ của người dân về rau an toàn; các giải pháp đẩy mạnh sản xuất rau an toàn. Điển hình có các đầu sách: “Kỹ thuật sản xuất rau an toàn” (2005) của nhóm tác giả Nguyễn Văn Tuấn (chủ biên), Lê Trường Thành, Lê Văn Thịnh, Nguyễn Thị Ly, Đặng Vũ Thị Thanh in ấn tại nhà xuất bản Nông nghiệp; “Kỹ thuật trồng rau an toàn: Cải bắp, cải bao, cải xanh ngọt.” (2011) của Trần Khắc Thi in ấn tại nhà xuất bản Nông nghiệp; “Trồng rau ăn lá” (2007) của Tạ Thị Cúc in ấn tại nhà xuất bản Phụ nữ;; “Trồng rau sạch theo mùa” (2012) của Bình Điền in ấn tại nhà xuất bản Hồng Đức; “Sản xuất rau trái vụ” (2015) của Lê Thị Thủy in tại nhà xuất bản Chính trị quốc gia; “Cần coi trọng việc cấp giấy chứng nhận rau an toàn” (2005) của Bảo Anh đăng trên Tạp chí Đông Nam Á; “Vai trò của quản lý nhà nước đối với thị trường rau sạch ở Hà Nội” (2013) của nhóm tác giả Mai Thanh Huyền và Nguyễn Duy Đạt đăng tại Tạp chí Kinh tế và dự đoán. 14 z Liên quan đến vấn đề xuất - nhập khẩu rau, củ, quả cũng có khá nhiều bài viết. Nổi bật là “Các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau an toàn của thành phố Hồ Chí Minh sang thị trường EU” (2008) của Hoàng Vĩnh Long in trên Tạp chí nghiên cứu châu Âu.
Nội dung bài viết này xoay quanh những nhóm giải pháp: nhóm giải pháp xúc tiến thương mại, nhóm giải pháp về tổ chức kinh doanh, nhóm giải pháp về thông tin và nhóm giải pháp về kỹ thuật sản xuất [16]. Một số ấn phẩm sách đã ra đời liên quan đến sản xuất rau, củ, quả theo tiêu chuẩn khoa học GAP. Năm 2007, tác giả Nguyễn Minh Châu xuất bản cuốn sách “Sổ tay sản xuất trái cây theo tiêu chuẩn GAP” của nhà xuất bản Nông nghiệp. Cuốn sách đã giới thiệu chung về phương pháp GAP, những chủ trương của bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, các chính sách và kinh nghiệm của các nước tiên tiến trong khu vực để sản xuất rau an toàn [4].
Năm 2014, tác giả Nguyễn Thị Phương công bố cuốn “Kỹ thuật trồng rau sạch an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP” in ấn tại nhà xuất bản Nông nghiệp, cung cấp kiến thức cơ bản yêu cầu, tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm (ATTP) đối với sản xuất rau, hướng dẫn kỹ thuật quan trọng trong sản xuất rau, công nghệ thu hoạch sản phẩm rau [21]. Năm 2015, Phạm Thị Thùy có cuốn sách “Sản xuất rau hữu cơ theo hệ thống đảm bảo cùng tham gia - PGS” của nhà xuất bản Nông nghiệp. Trong đó, tác giả đã trình bày phương pháp sản xuất rau theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt, các khái niệm cơ bản và các tiêu chuẩn để sản xuất nông nghiệp hữu cơ cùng việc giám sát và đảm bảo chất lượng sản phẩm hữu cơ theo hệ thống đảm bảo cùng tham gia [29]. Trong lĩnh vực khoa học xã hội nói chung và ngành Dân tộc học/Nhân học nói riêng đã có những bước đầu manh nha hướng nghiên cứu về vấn đề rau sạch.
Năm 2012, nhóm nghiên cứu khóa 54 khoa Nhân học, trường Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn của cố PGS. TS Lê Sỹ Giáo đã nghiên cứu thành công đề tài “Canh tác rau theo mô hình 15 z nông nghiệp hữu cơ ở xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội”. Bài nghiên cứu của các thành viên: Hồ Sỹ Lập, Ngô Thị Chang, Tạ Thị Hiền, Lê Thị Thương và Trần Diệu Anh đã đưa ra kết luận rằng: Thứ nhất, những lợi ích mà nông nghiệp hữu cơ mang lại sẽ là cơ sở vững chắc để hướng đền một nền nông nghiệp bền vững. Thứ hai, tri thức địa phương hay kiến thức bản địa tương tác với kinh nghiệm truyền thống của người dân trong canh tác nông nghiệp hữu cơ.
Do đó, mô hình này cần được phát triển rộng rãi ra khắp cả nước với mục đích bảo vệ hệ sinh thái, giữ gìn môi trường, đảm bảo cho phát triển bền vững. Thứ ba, ở Việt Nam muốn phát triển xã hội bền vững thì cần thiết phải hiểu đúng và phải xây dựng xã hội dân sự. Nghiên cứu về canh tác rau mô hình nông nghiệp hữu cơ kể trên, bên cạnh sự tự thân vận động, sáng tạo của người dân cần tạo nền tảng cơ bản về vai trò của tập thể và những kỹ năng cần thiết khi họ hoạt động, tương tác với nhau. Và cuối cùng, tiếp cận một mô hình sản xuất mới không thể không đề cập đến tổ chức sản xuất, các quan hệ sản xuất và quan hệ xã hội cơ bản của người nông dân [18].
Trên các phương tiện truyền thông đại chúng, rau sạch luôn là chủ đề nổi bật nhất là trong thời gian gần đây. Nhóm các bài viết về vấn đề rau sạch chia làm nội dung chính sau: Thứ nhất, loạt các bài viết nói về rau bẩn có thể kể tới như: “Họa thực phẩm bẩn: Rau ơi là rau!