Chương 1 TONG QUAN 1. Sơ lược về ký sinh trùng trên cá Cá là vật chủ của một số ký sinh trùng. Giun sán là một trong những nhóm ký sinh chủ yếu của cá và gây ra tổn thất nghiêm trọng sản lượng cá (Sobecka và Slominska, 2007). Danh sách các loài ký sinh trùng truyền từ hải sản qua người “se dinh Thích ty bào Sán đây Sán lá Giun tròn Giun đầu gai Cryptospoidium Kudoa Adenocephalus Appophalus Angiostrongylus Corynosoma Enterocytozoon -Myxobolus Diphyllobothrium Centrocestus Anisakis Bolbosoma Giardia Toxoplasma Diplogonoporus Clinostomum Capillaria Unicapsula Ligula Clonorchis Contracaecum Spirometra Cryptocotyle Dioctophyma Diplostomum Echinocephalus Echinostoma Eustrongvloides Haplorchis Filaria Heterophves Gnathostoma Heterophvopsis Hysterothylacciun Metorchis Philometra Metagonimus Pseudoterranova Nanophyetus Opisthorchis Phagicola Procerovum Paragonimus Prohemistomum Pygidiopsis Schistosoma Stellantchasmus Stictodora (Shamsi, 2019) Cá thường bị nhiễm ba nhóm giun san chính bao gồm Platyhelminthes (giun dep), Nematoda (giun tròn) va Acanthocephala (giun đầu gai) (Shamsi, 2019).1 thé hiện các loài kí sinh trùng có khả năng lây truyền từ hai sản sang người.
Sơ lược về Nematoda (giun tròn) Giun tròn ký sinh nhiều nhất ở các cơ quan thuộc hệ tiêu hoá, sau đó là các cơ quan như gan, lách và một số loài giun tròn ký sinh ở xoang cơ thể và trong cơ thịt của cá. Cơ thé giun tròn thường dai, hình sợi chỉ, đôi khi hình cầu; kích thước từ vai trăm micromet ở dạng ấu trùng đến vài centimet ở dang trưởng thành. Cơ thé giun thường thang hoặc uốn cong, đôi khi xoắn cong hình dạng lò, có cơ thể nhỏ, dai, hai đầu nhỏ, nhọn, hơi cong. Cơ thé dạng ống tròn không phân đốt.
Phía trước cơ thé có lỗ miệng, thường có ba môi: một môi lưng và hai môi bụng bao quanh (Hình 1. Việc phân loại định danh chính xác các loài giun tròn ký sinh trên cá cần dựa trên hình thái giun tròn kết hợp với các kỹ thuật sinh học phân tử (Mattiucci va ctv, 2008). Một số loài giun tròn có thé gây bệnh cho người do ăn phải thực phẩm chứa ấu trùng chưa được nấu chín bao gồm Anisakis spp. và Contracaeum spp.
Giun tron ki sinh trén ca bién, động vật chan đầu và cá voi ở các đại dương và biển trên thế giới. Cho đến năm 2011, khoảng 90 loài giun tròn thuộc 31 giống, 13 ho, 9 liên họ, 3 bộ và 2 phân lớp ký sinh ở cá biển vùng biển Trung Quốc (Peng và ctv, 2011) đã được thống kê. Ở Việt Nam, giun tròn ký sinh thu được ở các loài cá nghiên cứu đã xác định được 37 loài thuộc 2 lớp, 2 bộ, 9 họ và 21 giống bao gồm Capillaria sp. Cucullanus heterochrous, Cucullanus rastrelligeri, Cucullanus truttae, Cucullanus sp.
Chi Anisakis hiện nay trên thé giới có 33 loài ký sinh ở cá biển, nhưng phổ biển nhất là 2 loài Anisakis typica, Anisakis simplex, trong đó loài A. simplex và Pseudoterranova decipiens thuộc chi Pseudoterranova có khả năng gây bệnh cho con người được quan tâm rat nhiều (Hoàng Văn Hiền, 2019). Giun tròn tìm thấy trên cá biên (Buchmann và Mehrdana, 2016); B. hình thái ấu trùng L3 Anisakis (Auroux và Rodriguez, 2020).
Đặc điểm của họ Anisakidae Anisakis còn gọi là tuyến trùng ký sinh thuộc họ Phylum Nemathelmintes, lớp Nematoda, bộ Ascarida, họ Anisakidae va phan họ Anisakinae. Họ này bao gồm các chi Anisakis, Pseudoterranova, Contracaecum và Hysterothylacium. Tác nhân gây bệnh cho người thuộc chi Anisakis va chi Pseudoterranova, ba loài thuộc giống Anisakis được báo cáo là tác nhân gây bệnh ở người: A. simplex sensuriouso, Anisakis pegreffii và Anisakis Physeteris (Mattiucci và Nascetti, 2008).
Trong đó, Anisakis simplex (Rudophi, 1809) là một loài thuộc chi Anisakis (Dujardin, 1845) va Pseudoterranova decipiens thuộc chi Pseudoterranova (Mozgovoi, 1953) là hai tác nhân chính gây nên bệnh anisakidosis gây ra các tôn thương ở các điểm khác nhau trên đường tiêu hóa, thường dẫn đến những cơn đau dữ đội. | A ee T | 4 ° TẢ kasekis | : , a s ° Lí Ex. Âu trùng Anisakis sp (Lena, 2014) Dựa vào hình thái phát triển của ấu trùng ở người có thể xác định là ấu trùng giun tron ky sinh; tuy nhiên không thể phân biệt ấu trùng giữa Anisakis và Pseudoterravova.3 trình bày sự khác nhau về hình thái của các ấu trùng giun tròn. Tuy nhiên, việc chỉ dùng hình thái trong phân loại có nhiều sai lầm.
Bằng cách sử dung enzyme cắt giới hạn có thé xác định ấu trùng chỉ Anisakis có 7 loài Anisakis bao gồm: A. simplex sensu-stricto (ss), A. typica, Anisakis sp. A va au trùng chi Pseudoterranova có 3 loài là Pseudoterranova spp.
Anisakis apart L3 sa tyueiil EE Pseudot seudoterranova L3 Contra’ ontracaecum L3 Hysterothylacium ly: le L3 (A) Cephalic end m (B) Ventricular area e—I v— i J Ị- (C) Caudal end Hình 1. Hình thái các ấu trùng giun tròn (Auroux va Rodriguez, 2020) các từ viết tat: a, hậu môn; bt, rang; e, thực quan; ep, lỗ bài tiết; 1, ruột; ic, manh trang ruột; m, miệng: nr, vòng thân kinh; p, môi; r, trực tràng; s, cột sông; v, não thât; va, phân phụ não thất. Vòng đời của Anisakidae Vòng đời giun tròn phải trải qua tương đối nhiều vật chủ trung gian. Bắt đầu là trứng lơ ling trong nước bién, trai qua hai lần lột xác thành ấu trùng L2 và phát triển thành ấu trùng L3 bơi trong nước.
Âu trùng L3 bị các loài giáp xác và động vật thân mềm ăn phải và kí sinh bên trong cơ thê của các loại vật chủ trung gian. Các loài cá lớn hơn sau khi ăn phải giáp xác hoặc động vật thân mềm nhiễm ấu trùng, ấu trùng L3 sẽ di chuyển đến xoang ruột của cá và kí sinh tại đó. Các loài động vật có vú ở biển sẽ là kí chủ cuối cùng của Anisakis (Auroux va Rodriguez, 2020). Con người không phải là kí chủ cuối cùng mà chỉ là vật chủ tình cờ trong quá trình phát triển của Anisakis.
Con người chỉ bị nhiễm ấu trùng L3 khi ăn hải sản hay cá sông hoặc tái khi chưa nấu chín (Hurst, 2010; Auroux và Rodriguez, 2020; Daschner và Cuellar, 2020 và Gomes và ctv, 2020) (Hình 1. Vật chủ cuối cùng L3 -> L4 -> trưởng thành th — sinh chủ yếu ở ruột Con người không phải N /~ do an hải san nấu chưa chín — vật chủ trung gian. L3 nhiễm oe Trứng thoát ra ngoài vật chủ lơ lững trong „xắn G ->L2->L3 nước biển. = C3)NEr trong nước biển Vật chủ trung gian thứ hai nhiễm L3 doăn phải con mồi đã nhiễm ấu trùng Phát triển thành L3 »⁄ Vật chủ trung gian đầu tiên bị nhiễm L3 do ăn phải Hinh 1.
Vòng đời của Anisakis (Auroux va Rodriguez, 2020). (1) giun tròn trưởng thành trong vật chủ cuối cùng đẻ trứng lo ling trong ngước biên. (2) trứng phát triển từ L1 -> L2 -> L3 trong nước biển. (3) các giáp xác nhỏ cá nhỏ là vật chủ đầu tiên của au trùng L3 do ăn phải.
các cá lớn hơn là trung gian thứ 2 do ăn phải con mồi đã nhiễm ấu trùng. Con người không phải là vật chủ trung gian trong vòng đời ấu trùng. L3 nhiễm do con người ăn hải sản sản có nhiễm ấu trùng chưa được nấu chín. Sức đề kháng Anisakis bị tiêu diệt khi dun ở nhiệt độ 60°C trong hơn | phút hoặc ở nhiệt độ -20°C hon 24 giờ (Auroux va Rodriguez, 2020).
Ngoài kha năng tổn tại ở các ngưỡng nhiệt độ khác nhau, ấu trùng cũng có sức chịu đựng khá tốt trong môi trường nước muối (NaCl); khi tiếp xúc trực tiếp với dung dich NaCl ở nồng độ khác nhau (5, 10, 15, 20 và 35 g NaCl/ 100 mL), ấu trùng sẽ bị tiêu diét sau 3 ngày ở nồng độ cao nhất và sau 10 ngày ở nồng độ thấp nhất. Tuy nhiên, ấu trùng kí sinh ở các loài cá khác nhau sẽ có sức chịu đựng với dung dich NaCl khác nhau (Simat và Trumbic, 2019). Ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam, các món ăn hải sản truyền thống dạng ăn sống, tái thì không thé tiêu diệt được ấu trùng Anisakis. Thức ăn được chế biến dạng xông khói của Ba Lan, Tây Ban Nha hay các nước Đông Âu cũng có thể là nguồn lây nhiễm ấu trùng này (Kolodziejezyk va ctv, 2020).
Tình hình nhiễm Anisakis trên cá Giun tròn Anisakis kí sinh trong cá biển phân bố khắp mọi nơi trên thế giới (Gomes và ctv, 2020; Marzano và ctv, 2020; Rahmati và ctv, 2020; Smaldone và ctv, 2020). Tuy nhiên, chúng thường phân bồ tập trung ở vùng biển ôn đới và vùng biển nhiệt đới (Castellanos va ctv, 2017; Mattiucci va ctv, 2018; Aibuni va ctv, 2019) (Bang 1. Phân bố Anisakis trên thế giới (Mattiucci va ctv, 2018). Các loài Anisakis trên cá được phát hiện.
Khu vực Quốc gia Loài châu Phi Algeria A. simplex Ai Cap A. pegreffii chau A Trung Quéc A. pegreffii Tran Anisakis spp.
Nhat Ban A, pegreffii, A. simplex Han Quéc A. simplex Dai Loan A. simplex chau Dai Duong Nam Cuc A.
pegreffii Melbourne A, pegreffii chau Au Ao Anisakis spp. simplex kí Anisakis spp. simplex Bồ Đào Nha A. simplex Tay Ban Nha A.
simplex Vương quốc Anh Anisakis spp. Bac My Canada Anisakis spp. simplex Nam My Ecuador A. pegreffii Chile Anisakis spp.
(Aibinu và ctv, 2019) lãi Từ năm 2016 — 2017, tại Trung Quốc, Yang và ctv (2020) ghi nhận được tỉ lệ nhiễm Anisakis âu trùng L3 trên cá là 28,7%. Trong một đợt đánh bắt cá từ bờ biển Thái Bình Dương, loài Anisakis được tìm thấy chủ yếu là A. pegreffi với tỉ lệ nhiễm 53,6% hay A. simplex kí sinh phố biến nhất ở cá được bắt ở quan đảo Danjo với tỉ lệ nhiễm ở nội tạng 90,8% và ở cơ 100% (Gomes và ctv, 2020).
Trong một khảo sát ở Liên minh châu Âu, Morozinska-Gogol (2019) đã ghi nhận 236 trường hợp anisakidosis từ năm 2000 đến năm 2016. Hầu hết các ca bệnh được phát hiện ở Tây Ban Nha (66,9%) và Ý (28,4%). Ở Bi, bằng phương pháp dùng enzyme cắt giới hạn, tỉ lệ mẫu phi lê cá tuyết đã bị nhiễm ấu trùng Anisakidae chiếm 20% (Mercken và ctv, 2021). Tại Việt Nam, Hà Duy Ngọ và ctv (2009) đã phát hiện 2 loài giun tròn Capillaria sp.
và Anisakis sp. tại vùng biên Hạ Long tỉnh Quảng Ninh. Khi tiến hành khảo sat sự hiện diện Anisakis trên cá ngừ (Auxis thazard) tai Khánh Hoà bằng kỹ thuật phân tử PCR và giải trình tự gen, Trần Quang Sáng (2018) đã ghi nhận sự hiện diện của các loài Anisakis, phố biến nhất là A. typica với tỉ lệ nhiễm 66,67%; bên cạnh đó, tác gia này cũng tim thấy sự hiện diện của các loài A.
paggiae và Anisakis sp. trên những mẫu cá khảo sát tại vùng biển Quảng Bình. Hoàng Văn Hiền và ctv (2017) đã ghi nhận tỉ lệ nhiễm giun tròn chung ở cá là 38,75%; trong đó, có đến 32 bộ cá Vược nhiễm giun tròn. Dựa trên hình thái cau tao của loài, trong số các họ cá nhiễm giun tròn thì họ cá Trác (Priacanthidae) nhiễm cao nhất (43,24%) tiếp đó đến các họ cá Phèn (Mullidae) (41,94%) và họ cá Hồ (Trichiuridae) (41,77%) (Hoàng Văn Hiền, 2017).