CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ BỖNG 1. Hệ thống phân loại Lớp cá Xương Osteichthyes Bộ cá Chép Cypriniformes Họ cá Chép Cyprinidae Giống cá Bỗng Spinibarbus Loài cá Bỗng Spinibarbus denticulatus (Oshima, 1926) Tên tiếng Việt: cá Bỗng, cá Võng, cá Xộp má đào, cá Dốc Tên tiếng Thái: Pa Pung (cá nhỏ), Pa Pục (cá lớn) Tên tiếng Tày: Pia Pung, Pia Pục, Pia Chiết.
Cá Bỗng Spinibarbus denticulatus (Oshima, 1926) 1. Đặc điểm phân bố Phân bố trên thế giới: cá Bỗng phân bố tại Trung Quốc, Lào và Việt Nam. Ở Việt Nam: Cá sống ở trung và thượng lưu các sông lớn ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam như sông Hồng (Yên Bái trở lên), sông Thái Bình, sông Mã, sông Lam (Son Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 Cuông, Của Rào), Sông Gianh, sông Thu Bồn, giới hạn thấp nhất là sông Trà Khúc (Quảng Ngãi). Các loài có phân bố Đông Nam Á, và được biết đến từ các dòng sông ở đảo Hải Nam (Trung Quốc), phía đông nam Trung Quốc, Lào và Việt Nam (Yue et al.
2000, Kottelat 2001, Serov et al. Trong Yue và cộng sự (2000), ba phân loài của Spinibarbus denticulatus ở Trung Quốc đã được mô tả: (Spinibarbus denticulatus) được biết đến từ sông Yuanjjiang, sông Zhujiang và đảo Hải Nam; (S. yunnanensis) được biết đến từ hồ Yangzonghai và hồ Fuxian (tỉnh Vân Nam); (S. polylepis) được biết đến từ sông Nanpanjiang (trên lưu vực sông Pearl).
Ở Việt Nam, cá Bỗng phân bố từ các sông Quảng Trị (tỉnh Quảng Trị) đến lưu vực sông Lam (tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Nghệ An) (Serov et al. Ở Lào, cá được tìm thấy ở khu vực sông Mã Nam (Kottelat 2001). Tập tính sống: Cá thích nước chảy, sống ở tầng giữa và tầng đáy, trong các sông suối nước chảy thuộc miền núi. Cá thường sống thành từng đàn nơi nước trong, sâu, các vũng vực.
Cá cũng thường đi vào các eo vịnh của các sông nhánh hoặc vào các hồ nước trong thông với sông để vỗ béo. Vùng phân bố Cá Bỗng trên thế giới Nguồn: http://www.org [70] Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 1. Mô tả hình thái, cấu tạo Hình thái cá Bỗng trên một số lưu vực sông, suối ở một số tỉnh miền Bắc theo Nguyễn Văn Hảo (1993), cá Bỗng có thân dài dẹp hai bên, lưng hơi cong, toàn thân nhìn nghiêng hình thoi. Bụng tròn, đầu dài vừa, đỉnh đầu hơi lồi.
Lưng màu đen hoặc xám xanh. Bụng màu xám nhạt hoặc trắng. Viền trước vẩy màu đen, viền sau vẩy nhạt hơn. Gần gốc vây đuôi có một chấm đen (rất rõ ở cá con).
Các vây màu xám, phần ngọn nhạt hơn phần gốc. Hai má có màu hồng, chạy dài xuống một số vẩy hai bên thân. Mõm tù hơi nhô về phía trước, ở một số tiêu bản mõm có kết hạt nhỏ trắng kéo dài đến dưới mũi. Miệng mé dưới, hướng ngang hình móng ngựa, phía sau chưa tới viền dưới mắt.
Da mõm dày, phủ lên rãnh mõm. Có hai đôi râu, râu hàm dài bằng 1,5-1,6 lần đường kính mắt. Lỗ mũi gần mắt hơn mõm. Mắt tròn và tương đối lớn nằm ở phía trên và nửa dưới của đầu, khoảng cách hai mắt rộng phẳng hoặc hơi lồi.
Màng mang liên kết với eo mang. Lược mang thưa ngắn. Răng hầu dẹp bên đỉnh hơi cong. Vây lưng có tia gai cứng, phần nhọn mềm và phía sau có răng cưa, viền sau lõm.
Khởi điểm vây lưng sau khởi điểm vây bụng, gần gốc vây đuôi hơn mõm.Trước vây lưng có 1 gai ngược nằm ẩn dưới da chỉ về phía đầu. Vây ngực chưa tới vây bụng. Vây bụng chưa tới vây hậu môn. Hậu môn sát gốc vây hậu môn.
Vây đuôi phân thuỳ sâu, mút nhọn và tương đương nha. Vẩy tương đối lớn, sắp xếp đều. Gốc vây bụng có vảy nách, dài bằng 2/5 chiều dài vây bụng. Lưng cá màu xám, nhạt dần về phía bụng.
Vẩy tròn, lớn, dày. Đường bên hoàn toàn, hơi cong về phía bụng, phần sau đi vào giữa thân. Gốc vây bụng có vảy nách, dài bằng 2/5 chiều dài vây bụng. Ruột to và cuộn khúc [15].
Một số đặc điểm hình thái: Lo: 55-244 mm; D 4,9; A 3,5; P 1,15-16; V 2,8-9; ; Số vẩy cuống đuôi= 8, số que mang ở cung mang, P= 5-322g; H/Lo: 31,2%; T/Lo: 23,3% ; O/T: 25,1% ; OO/T: 44,4% [8]. Đặc điểm dinh dưỡng Cá Bỗng là loài cá ăn tạp, thức ăn chủ yếu là các loại thực vật bậc cao điển hình. Lúc còn nhỏ cá ăn động vật phù du, mùn bã hữu cơ, khi đạt kích cỡ trên 6cm chúng mới có thể ăn thực vật thuỷ sinh. Cá càng lớn thể hiện càng rõ tính ăn thực vật; cá ăn thực vật, lá cây, quả.
Theo nghiên cứu của Đoàn Văn Đẩu và Lê Thị Lệ (1971), cá Bỗng ăn khoảng 25 loại thực vật khác nhau như: rau muống, bắp cải, dâu tằm, bèo,. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Ngoài ra cá còn thích ăn các loại thức ăn công nghiệp như thức ăn viên, cám hỗn hợp trong điều kiện nuôi chủ động trong ao, lồng bè [18]. Chỉ số RLG (Relative length of the gut) của cá Bỗng ĐVT: mm Chiều dài ruột (Li) Chiều dài thân (L) STT Tỷ lệ Li/L mm mm 1 36,5 11,3 3,23 2 37,0 11,5 3,19 3 40,0 12,2 3,27 4 42,2 13,4 3,25 5 40,8 12,5 3,27 6 44,0 13,5 3,26 7 41,2 12,8 3,22 8 45,9 14,0 3,27 9 35,2 11,0 3,20 10 40,8 12,6 3,24 Giá trị TB 3,24 Ghi chú: chỉ số RLG được tính toán trong thực nghiệm nghiên cứu. Qua kết quả từ bảng trên cho thấy chỉ số RLG (relative length of gut) dao động từ 3,19- 3,27; trung bình là 3,24.
Theo nhận định của Nicolski (1963): Li/Ls ≤ 1: cá ăn tạp thiên về động vật, Li/Ls = 1-3: cá ăn tạp, Li/Ls ≥ 3: ăn tạp thiên về thực vật. Từ đó có thể nhận định rằng cá Bỗng là loài ăn tạp thiên về thực vật. Đặc điểm sinh trưởng Phạm Thị Minh Giang (1973) mô tả phương pháp xác định tuổi của cá dựa trên số vòng thể hiện trên vảy do Pravdin, I. Đối với cá Bỗng, vòng tuổi trên vảy thể hiện vừa có tính chất tiếp giáp giữa vòng vân xếp dày, thưa và vừa có tính cắt nhau giữa các vòng vân.
Vòng tuổi thể hiện hoàn toàn rõ ở hai bên sườn vảy và vai Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 vảy. Cá Bỗng hình thành vòng tuổi vào cuối mùa đông đầu mùa xuân [28]. Tốc độ tăng trưởng của cá Bỗng thuộc loại trung bình. Cá tăng chiều dài nhanh ở năm thứ nhất và năm thứ 2.
Sự tăng trưởng nhanh về khối lượng bắt đầu từ năm thứ 3 sau đó chậm dần và thay đổi ít. Sự tăng trưởng của cá đực chậm hơn cá cái khoảng 10,0-11,5cm. Ở tuổi 10-15 tăng trưởng chiều dài trung bình 4,3-5,4 cm/năm. Theo Phạm Báu và ctv (2000), cá Bỗng sống trong điều kiện tự nhiên (sông Gâm) và cá nuôi trong lồng bè, ao trên cơ sở cùng tuổi có sự tăng trưởng về chiều dài khác nhau rõ rệt.
Sự sai khác trên chủ yếu do điều kiện thức ăn chi phối. Trong điều kiện nuôi trong ao tại Viện NCNT Thuỷ Sản 1, cá 1 tuổi đạt chiều dài 16,9 cm và khối lượng 69,1 g. Khi cá nuôi được 18 tháng tuổi, chiều dài đạt 26,0 cm và khối lượng đạt 261 g. Kết quả về tăng trưởng của cá nuôi tại Viện NCNT Thuỷ Sản 1 gần bằng số liệu cá 3 năm tuổi thu ngoài tự nhiên [4], [48].
Như vậy, chế độ chăm sóc và nguồn thức ăn bổ sung đối với cá Bỗng là hết sức quan trọng. Cá có kích cỡ tối đa đạt 20- 30 kg. Cá tăng trưởng về chiều dài nhanh ở năm thứ nhất và năm thứ hai có thể đạt 10-11,5 cm/năm, sau đó chậm dần và thay đổi ít. Sau 1 năm tuổi cá đạt kích cỡ 672 g, năm thứ 2 đạt 1.500 g và năm thứ 3 đạt 2.
Tuổi thọ của cá là 15 năm. Vòng tuổi trên vảy của cá Bỗng (từ trái sang phải tương ứng với 4,5,6 tuổi) Nguồn: Đinh Văn Trung [36] Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 1. Đặc điểm sinh sản Các bãi đẻ trong vụ nước cạn ở sông Hồng nằm ở trung lưu từ Yên bái tới Lào Cai như các bãi: Hợp Thành, Tân An, Phan Thanh, An Dương, Đông Thái,. ở sông Nậm Thi cá Bỗng đẻ ở Bản Quần, ở sông Lô thì chúng đẻ rải rác từ phía trên Vĩnh Tuy đến biên giới Việt - Trung (Đoàn Văn Đẩu và Lê Thị Lệ, 1971).
Vụ đẻ thứ 2 cá thường vào các ngòi lớn như: ngòi Bo (sông Hồng), ngòi Mã (sông Lô) để đẻ. Bãi đẻ của cá Bỗng có địa hình đặc biệt đáy là cát sỏi lớn, nước chảy mạnh (lưu tốc nước khoảng 0,22 -0,54m/s), nước có độ trong cao, chảy xiết giàu ôxy hoà tan, pH hơi kiềm. Sau bãi đẻ là vực sâu cho cá trú ẩn và kiếm thức ăn. Tuy nhiên hiện nay do nguồn lợi bị suy giảm nghiêm trọng nên hầu hết các sông suối thuộc hệ thống sông Hồng không còn gặp cá Bỗng nữa, các bãi đẻ trước đây công bố hiện nay cũng không còn nữa.
Hiện nay, nơi còn cá Bỗng đẻ nhiều hơn cả là đoạn sông Gâm từ Na Hang đến Bắc Mê, nhưng do bị đánh bắt nên cá đẻ không còn tập trung như trước đây [7], [8], [12]. Thành thục ở năm thứ 3 (2+ tuổi) khi trọng lượng tương ứng khoảng 2 kg. Trong ao nuôi cá có tỷ lệ thành thục thấp 1,54 - 4,67%. Cá đẻ trứng dính vào các giá thể.
Mùa vụ sinh sản của cá chia làm hai đợt vụ Xuân: từ tháng 2 đến 6 và vụ Thu: tháng 7 đến 8 [8]. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CÁ BỖNG 1. Các nghiên cứu trong nước Một số nghiên cứu về phân họ cá Bỗng (Barbinae) là một phân họ lớn nhất trong họ cá Chép (Cypridae) có nhiều loài cá là nguồn thực phẩm và mang lại lợi ích kinh tế cao nhưng hiện nay, một số loài trong phân họ có nguy cơ diệt vong.