Nghiên Cứu Khả Năng Sản Xuất Giống Cá Bỗng Spinibarbus denticulatus Tại Quảng Bình

Tài liệu nghiên cứu Luận văn đánh giá khả năng thành thục và nghiên cứu sản xuất giống cá bỗng spinibarbus denticulatus, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2016

80
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục đích của đề tài

1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.3.1. Ý nghĩa khoa học

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ BỖNG

2.1.1. Hệ thống phân loại

2.1.2. Đặc điểm phân bố

2.1.3. Mô tả hình thái, cấu tạo

2.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng

2.1.5. Đặc điểm sinh trưởng

2.1.6. Đặc điểm sinh sản

2.2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CÁ BỖNG

2.2.1. Các nghiên cứu trong nước

2.2.2. Các nghiên cứu về cá Bỗng trên thế giới

2.2.3. Giá trị văn hóa, bảo tồn và lưu giữ

2.3. TÌNH HÌNH NUÔI CÁ NƯỚC NGỌT VÀ CÁ BỐNG TẠI QUẢNG BÌNH

2.3.1. Tình hình nuôi cá nước ngọt tại Quảng Bình

2.3.2. Đánh giá tình hình nuôi cá nước ngọt tại Quảng Bình

2.3.3. Tình hình nuôi cá Bỗng tại địa bàn nghiên cứu

2.3.4. Định hướng phát triển nuôi cá Bỗng tại Quảng Bình

2.4. ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ BÊN NGOÀI LÊN SỰ PHÁT TRIỂN TUYẾN SINH DỤC CỦA CÁ BỐ MẸ

2.4.1. Các yếu tố khác

2.5. KÍCH THÍCH SINH SẢN Ở CÁ

2.5.1. Hormon phóng thích kích dục tố - GnRH và yếu tố ức chế sự tiết kích dục tố - GRIF (dopamin)

2.5.2. Chất kích thích sinh sản GnRH-A và chất kháng dopamin dùng trong sinh sản nhân tạo cá

2.5.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển phôi

2.5.4. Các kiểu ấp trứng

2.6. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.6.1. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.6.1.1. Nuôi vỗ cá bố mẹ thành thục
2.6.1.2. Kích thích sinh sản nhân tạo cá Bỗng
2.6.1.3. Ương cá bột đến 30 ngày tuổi

2.6.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.6.2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.6.2.2. Phạm vi nghiên cứu
2.6.2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.6.2.4. Các chỉ tiêu theo dõi
2.6.2.5. Phương pháp tính toán và xử lí số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. NUÔI VỖ CÁ BỐ MẸ

3.1.1. Các yếu tố chất lượng nước trong ao nuôi vỗ

3.1.2. Chiều dài và khối lượng thành thục lần đầu

3.1.3. Tỷ lệ thành thục và mùa vụ sinh sản

3.2. KÍCH THÍCH SINH SẢN CÁ BỐNG

3.2.1. Một số yếu tố môi trường

3.2.2. Chọn cá bố mẹ

3.2.3. Kết quả kích thích sinh sản

3.3. ƯƠNG CÁ BỘT ĐẾN 30 NGÀY TUỔI

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu sản xuất giống cá Bỗng tại Quảng Bình

Quảng Bình là một tỉnh ven biển Miền Trung, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có diện tích tiềm năng mặt nước ngọt rộng lớn (khoảng 11.000ha), là điều kiện thuận lợi để phát triển nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt. Hiện tại, nuôi thuỷ sản nước ngọt chủ yếu là những đối tượng cá truyền thống (Trắm, Mè, Chép, Rô phi đơn tính.), những loài này phát triển tốt với điều kiện nuôi tại Quảng Bình, đã tạo công ăn việc làm tăng thu nhập cho bà con nông dân, tuy nhiên nhu cầu đời sống nói chung và thực phẩm nói riêng ngày càng cao. Vì vậy, cần phải nghiên cứu và sản xuất một số đối tượng cá đặc sản có giá trị thương phẩm cao để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và tăng hiệu quả kinh tế cho người nuôi.

1.1. Lợi ích của việc nghiên cứu sản xuất giống cá Bỗng

Việc nghiên cứu sản xuất giống cá Bỗng sẽ giúp cung cấp con giống có chất lượng cho người nuôi, tăng hiệu quả kinh tế và bảo vệ nguồn lợi cá Bỗng.

1.2. Tình hình nghiên cứu sản xuất giống cá Bỗng hiện nay

Hiện nay, các nghiên cứu khoa học về loài cá Bỗng vẫn chưa nhiều, quy trình sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thương phẩm vẫn chưa được ban hành và áp dụng rộng rãi trong sản xuất.

II. Đặc điểm sinh học của cá Bỗng

Cá Bỗng là loài cá ăn tạp, thức ăn chủ yếu là các loại thực vật bậc cao điển hình. Lúc còn nhỏ cá ăn động vật phù du, mùn bã hữu cơ, khi đạt kích cỡ trên 6cm chúng mới có thể ăn thực vật thuỷ sinh. Cá càng lớn thể hiện càng rõ tính ăn thực vật; cá ăn thực vật, lá cây, quả.

2.1. Đặc điểm hình thái của cá Bỗng

Cá Bỗng có thân dài dẹp hai bên, lưng hơi cong, toàn thân nhìn nghiêng hình thoi. Bụng tròn, đầu dài vừa, đỉnh đầu hơi lồi. Lưng màu đen hoặc xám xanh. Bụng màu xám nhạt hoặc trắng.

2.2. Đặc điểm sinh trưởng của cá Bỗng

Cá Bỗng tăng trưởng về chiều dài nhanh ở năm thứ nhất và năm thứ hai có thể đạt 10-11,5 cm/năm, sau đó chậm dần và thay đổi ít. Sau 1 năm tuổi cá đạt kích cỡ 672 g, năm thứ 2 đạt 1.500 g và năm thứ 3 đạt 2.000 g.

III. Phương pháp nghiên cứu sản xuất giống cá Bỗng

Phương pháp nghiên cứu sản xuất giống cá Bỗng bao gồm nuôi vỗ cá bố mẹ thành thục, kích thích sinh sản nhân tạo cá Bỗng, ấp trứng và ương cá bột.

3.1. Nuôi vỗ cá bố mẹ thành thục

Cá bố mẹ được nuôi vỗ trong ao đất với điều kiện nuôi ở tỉnh Quảng Bình, thức ăn tổng hợp, ngô nảy mầm và thức ăn xanh.

3.2. Kích thích sinh sản nhân tạo cá Bỗng

Cá Bỗng được kích thích sinh sản bằng chất kích thích sinh sản LRHa + Dom. Liều lượng sử dụng hiệu quả nhất là 40μg LRHa + 5mg Dom/kg cá cái.

IV. Kết quả nghiên cứu sản xuất giống cá Bỗng

Kết quả nghiên cứu sản xuất giống cá Bỗng cho thấy cá Bỗng hoàn toàn có thể thành thục sinh dục trong ao đất với điều kiện nuôi ở tỉnh Quảng Bình, thức ăn tổng hợp, ngô nảy mầm và thức ăn xanh.

4.1. Tỷ lệ thành thục của cá Bỗng

Tỷ lệ thành thục của cá Bỗng đạt 100% ở cá đực và 90% ở cá cái vào tháng 4.

4.2. Sức sinh sản của cá Bỗng

Sức sinh sản của cá Bỗng từ 3.000 - 4.000 trứng/kg cá cái.

V. Kết luận và đề nghị

Kết quả nghiên cứu sản xuất giống cá Bỗng cho thấy cá Bỗng có thể được sản xuất giống trong ao đất với điều kiện nuôi ở tỉnh Quảng Bình, thức ăn tổng hợp, ngô nảy mầm và thức ăn xanh.

5.1. Kết luận

Cá Bỗng có thể được sản xuất giống trong ao đất với điều kiện nuôi ở tỉnh Quảng Bình, thức ăn tổng hợp, ngô nảy mầm và thức ăn xanh.

5.2. Đề nghị

Cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá Bỗng để áp dụng rộng rãi trong sản xuất.

05/06/2025
Luận văn đánh giá khả năng thành thục và nghiên cứu sản xuất giống cá bỗng spinibarbus denticulatus oshima 1926 tại quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ BỖNG 1. Hệ thống phân loại Lớp cá Xương Osteichthyes Bộ cá Chép Cypriniformes Họ cá Chép Cyprinidae Giống cá Bỗng Spinibarbus Loài cá Bỗng Spinibarbus denticulatus (Oshima, 1926) Tên tiếng Việt: cá Bỗng, cá Võng, cá Xộp má đào, cá Dốc Tên tiếng Thái: Pa Pung (cá nhỏ), Pa Pục (cá lớn) Tên tiếng Tày: Pia Pung, Pia Pục, Pia Chiết.

Cá Bỗng Spinibarbus denticulatus (Oshima, 1926) 1. Đặc điểm phân bố Phân bố trên thế giới: cá Bỗng phân bố tại Trung Quốc, Lào và Việt Nam. Ở Việt Nam: Cá sống ở trung và thượng lưu các sông lớn ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam như sông Hồng (Yên Bái trở lên), sông Thái Bình, sông Mã, sông Lam (Son PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 Cuông, Của Rào), Sông Gianh, sông Thu Bồn, giới hạn thấp nhất là sông Trà Khúc (Quảng Ngãi). Các loài có phân bố Đông Nam Á, và được biết đến từ các dòng sông ở đảo Hải Nam (Trung Quốc), phía đông nam Trung Quốc, Lào và Việt Nam (Yue et al.

2000, Kottelat 2001, Serov et al. Trong Yue và cộng sự (2000), ba phân loài của Spinibarbus denticulatus ở Trung Quốc đã được mô tả: (Spinibarbus denticulatus) được biết đến từ sông Yuanjjiang, sông Zhujiang và đảo Hải Nam; (S. yunnanensis) được biết đến từ hồ Yangzonghai và hồ Fuxian (tỉnh Vân Nam); (S. polylepis) được biết đến từ sông Nanpanjiang (trên lưu vực sông Pearl).

Ở Việt Nam, cá Bỗng phân bố từ các sông Quảng Trị (tỉnh Quảng Trị) đến lưu vực sông Lam (tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Nghệ An) (Serov et al. Ở Lào, cá được tìm thấy ở khu vực sông Mã Nam (Kottelat 2001). Tập tính sống: Cá thích nước chảy, sống ở tầng giữa và tầng đáy, trong các sông suối nước chảy thuộc miền núi. Cá thường sống thành từng đàn nơi nước trong, sâu, các vũng vực.

Cá cũng thường đi vào các eo vịnh của các sông nhánh hoặc vào các hồ nước trong thông với sông để vỗ béo. Vùng phân bố Cá Bỗng trên thế giới Nguồn: http://www.org [70] PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 1. Mô tả hình thái, cấu tạo Hình thái cá Bỗng trên một số lưu vực sông, suối ở một số tỉnh miền Bắc theo Nguyễn Văn Hảo (1993), cá Bỗng có thân dài dẹp hai bên, lưng hơi cong, toàn thân nhìn nghiêng hình thoi. Bụng tròn, đầu dài vừa, đỉnh đầu hơi lồi.

Lưng màu đen hoặc xám xanh. Bụng màu xám nhạt hoặc trắng. Viền trước vẩy màu đen, viền sau vẩy nhạt hơn. Gần gốc vây đuôi có một chấm đen (rất rõ ở cá con).

Các vây màu xám, phần ngọn nhạt hơn phần gốc. Hai má có màu hồng, chạy dài xuống một số vẩy hai bên thân. Mõm tù hơi nhô về phía trước, ở một số tiêu bản mõm có kết hạt nhỏ trắng kéo dài đến dưới mũi. Miệng mé dưới, hướng ngang hình móng ngựa, phía sau chưa tới viền dưới mắt.

Da mõm dày, phủ lên rãnh mõm. Có hai đôi râu, râu hàm dài bằng 1,5-1,6 lần đường kính mắt. Lỗ mũi gần mắt hơn mõm. Mắt tròn và tương đối lớn nằm ở phía trên và nửa dưới của đầu, khoảng cách hai mắt rộng phẳng hoặc hơi lồi.

Màng mang liên kết với eo mang. Lược mang thưa ngắn. Răng hầu dẹp bên đỉnh hơi cong. Vây lưng có tia gai cứng, phần nhọn mềm và phía sau có răng cưa, viền sau lõm.

Khởi điểm vây lưng sau khởi điểm vây bụng, gần gốc vây đuôi hơn mõm.Trước vây lưng có 1 gai ngược nằm ẩn dưới da chỉ về phía đầu. Vây ngực chưa tới vây bụng. Vây bụng chưa tới vây hậu môn. Hậu môn sát gốc vây hậu môn.

Vây đuôi phân thuỳ sâu, mút nhọn và tương đương nha. Vẩy tương đối lớn, sắp xếp đều. Gốc vây bụng có vảy nách, dài bằng 2/5 chiều dài vây bụng. Lưng cá màu xám, nhạt dần về phía bụng.

Vẩy tròn, lớn, dày. Đường bên hoàn toàn, hơi cong về phía bụng, phần sau đi vào giữa thân. Gốc vây bụng có vảy nách, dài bằng 2/5 chiều dài vây bụng. Ruột to và cuộn khúc [15].

Một số đặc điểm hình thái: Lo: 55-244 mm; D 4,9; A 3,5; P 1,15-16; V 2,8-9; ; Số vẩy cuống đuôi= 8, số que mang ở cung mang, P= 5-322g; H/Lo: 31,2%; T/Lo: 23,3% ; O/T: 25,1% ; OO/T: 44,4% [8]. Đặc điểm dinh dưỡng Cá Bỗng là loài cá ăn tạp, thức ăn chủ yếu là các loại thực vật bậc cao điển hình. Lúc còn nhỏ cá ăn động vật phù du, mùn bã hữu cơ, khi đạt kích cỡ trên 6cm chúng mới có thể ăn thực vật thuỷ sinh. Cá càng lớn thể hiện càng rõ tính ăn thực vật; cá ăn thực vật, lá cây, quả.

Theo nghiên cứu của Đoàn Văn Đẩu và Lê Thị Lệ (1971), cá Bỗng ăn khoảng 25 loại thực vật khác nhau như: rau muống, bắp cải, dâu tằm, bèo,. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Ngoài ra cá còn thích ăn các loại thức ăn công nghiệp như thức ăn viên, cám hỗn hợp trong điều kiện nuôi chủ động trong ao, lồng bè [18]. Chỉ số RLG (Relative length of the gut) của cá Bỗng ĐVT: mm Chiều dài ruột (Li) Chiều dài thân (L) STT Tỷ lệ Li/L mm mm 1 36,5 11,3 3,23 2 37,0 11,5 3,19 3 40,0 12,2 3,27 4 42,2 13,4 3,25 5 40,8 12,5 3,27 6 44,0 13,5 3,26 7 41,2 12,8 3,22 8 45,9 14,0 3,27 9 35,2 11,0 3,20 10 40,8 12,6 3,24 Giá trị TB 3,24 Ghi chú: chỉ số RLG được tính toán trong thực nghiệm nghiên cứu. Qua kết quả từ bảng trên cho thấy chỉ số RLG (relative length of gut) dao động từ 3,19- 3,27; trung bình là 3,24.

Theo nhận định của Nicolski (1963): Li/Ls ≤ 1: cá ăn tạp thiên về động vật, Li/Ls = 1-3: cá ăn tạp, Li/Ls ≥ 3: ăn tạp thiên về thực vật. Từ đó có thể nhận định rằng cá Bỗng là loài ăn tạp thiên về thực vật. Đặc điểm sinh trưởng Phạm Thị Minh Giang (1973) mô tả phương pháp xác định tuổi của cá dựa trên số vòng thể hiện trên vảy do Pravdin, I. Đối với cá Bỗng, vòng tuổi trên vảy thể hiện vừa có tính chất tiếp giáp giữa vòng vân xếp dày, thưa và vừa có tính cắt nhau giữa các vòng vân.

Vòng tuổi thể hiện hoàn toàn rõ ở hai bên sườn vảy và vai PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 vảy. Cá Bỗng hình thành vòng tuổi vào cuối mùa đông đầu mùa xuân [28]. Tốc độ tăng trưởng của cá Bỗng thuộc loại trung bình. Cá tăng chiều dài nhanh ở năm thứ nhất và năm thứ 2.

Sự tăng trưởng nhanh về khối lượng bắt đầu từ năm thứ 3 sau đó chậm dần và thay đổi ít. Sự tăng trưởng của cá đực chậm hơn cá cái khoảng 10,0-11,5cm. Ở tuổi 10-15 tăng trưởng chiều dài trung bình 4,3-5,4 cm/năm. Theo Phạm Báu và ctv (2000), cá Bỗng sống trong điều kiện tự nhiên (sông Gâm) và cá nuôi trong lồng bè, ao trên cơ sở cùng tuổi có sự tăng trưởng về chiều dài khác nhau rõ rệt.

Sự sai khác trên chủ yếu do điều kiện thức ăn chi phối. Trong điều kiện nuôi trong ao tại Viện NCNT Thuỷ Sản 1, cá 1 tuổi đạt chiều dài 16,9 cm và khối lượng 69,1 g. Khi cá nuôi được 18 tháng tuổi, chiều dài đạt 26,0 cm và khối lượng đạt 261 g. Kết quả về tăng trưởng của cá nuôi tại Viện NCNT Thuỷ Sản 1 gần bằng số liệu cá 3 năm tuổi thu ngoài tự nhiên [4], [48].

Như vậy, chế độ chăm sóc và nguồn thức ăn bổ sung đối với cá Bỗng là hết sức quan trọng. Cá có kích cỡ tối đa đạt 20- 30 kg. Cá tăng trưởng về chiều dài nhanh ở năm thứ nhất và năm thứ hai có thể đạt 10-11,5 cm/năm, sau đó chậm dần và thay đổi ít. Sau 1 năm tuổi cá đạt kích cỡ 672 g, năm thứ 2 đạt 1.500 g và năm thứ 3 đạt 2.

Tuổi thọ của cá là 15 năm. Vòng tuổi trên vảy của cá Bỗng (từ trái sang phải tương ứng với 4,5,6 tuổi) Nguồn: Đinh Văn Trung [36] PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 1. Đặc điểm sinh sản Các bãi đẻ trong vụ nước cạn ở sông Hồng nằm ở trung lưu từ Yên bái tới Lào Cai như các bãi: Hợp Thành, Tân An, Phan Thanh, An Dương, Đông Thái,. ở sông Nậm Thi cá Bỗng đẻ ở Bản Quần, ở sông Lô thì chúng đẻ rải rác từ phía trên Vĩnh Tuy đến biên giới Việt - Trung (Đoàn Văn Đẩu và Lê Thị Lệ, 1971).

Vụ đẻ thứ 2 cá thường vào các ngòi lớn như: ngòi Bo (sông Hồng), ngòi Mã (sông Lô) để đẻ. Bãi đẻ của cá Bỗng có địa hình đặc biệt đáy là cát sỏi lớn, nước chảy mạnh (lưu tốc nước khoảng 0,22 -0,54m/s), nước có độ trong cao, chảy xiết giàu ôxy hoà tan, pH hơi kiềm. Sau bãi đẻ là vực sâu cho cá trú ẩn và kiếm thức ăn. Tuy nhiên hiện nay do nguồn lợi bị suy giảm nghiêm trọng nên hầu hết các sông suối thuộc hệ thống sông Hồng không còn gặp cá Bỗng nữa, các bãi đẻ trước đây công bố hiện nay cũng không còn nữa.

Hiện nay, nơi còn cá Bỗng đẻ nhiều hơn cả là đoạn sông Gâm từ Na Hang đến Bắc Mê, nhưng do bị đánh bắt nên cá đẻ không còn tập trung như trước đây [7], [8], [12]. Thành thục ở năm thứ 3 (2+ tuổi) khi trọng lượng tương ứng khoảng 2 kg. Trong ao nuôi cá có tỷ lệ thành thục thấp 1,54 - 4,67%. Cá đẻ trứng dính vào các giá thể.

Mùa vụ sinh sản của cá chia làm hai đợt vụ Xuân: từ tháng 2 đến 6 và vụ Thu: tháng 7 đến 8 [8]. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CÁ BỖNG 1. Các nghiên cứu trong nước Một số nghiên cứu về phân họ cá Bỗng (Barbinae) là một phân họ lớn nhất trong họ cá Chép (Cypridae) có nhiều loài cá là nguồn thực phẩm và mang lại lợi ích kinh tế cao nhưng hiện nay, một số loài trong phân họ có nguy cơ diệt vong.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Sản Xuất Giống Cá Bỗng Tại Quảng Bình" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình sản xuất giống cá bỗng, một loài cá quý hiếm và có giá trị kinh tế cao. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của giống cá mà còn đề xuất các phương pháp nuôi trồng hiệu quả, giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về kỹ thuật nuôi cá, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn để cải thiện hoạt động sản xuất của mình.

Để mở rộng kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ đánh giá khả năng thành thục và nghiên cứu sản xuất giống cá bỗng spinibarbus denticulatus oshima 1926 tại quảng bình, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về khả năng sinh trưởng của giống cá bỗng. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu mật độ nuôi cá chim vây vàng trachinotus blochii lacepède 1801 thương phẩm trong ao cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp nuôi trồng cá thương phẩm, từ đó áp dụng vào việc nuôi cá bỗng. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn nâng cao kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản.