CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA DE TÀI 1.1 Tổng quan van đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu thái độ ở các nước trên thế giới Trong Tâm lý học, van đề thái độ (attitude) thường xuyên được xem là một trong những trọng tâm nghiên cứu của các nhà khoa học. Người đầu tiên khởi xướng việc nghiên cứu thái độ chủ quan của nhân cách là A. Theo ông, đời sống tâm lý thực của con người được chia làm hai lĩnh vực: cái tâm lý bên trong và cái tâm lý bên ngoài, trong đó, cái tâm lý bên ngoài chính là hệ thống thái độ của nhân cách với môi trường xung quanh.
Sau này, khi phân tích lịch sử nghiên cứu thái độ, nhà tâm lý học Shikhirep đã chia thành ba thời kỳ cơ bản và sự phân chia này được nhiều nhà tâm lý học đồng ý.318] - Thời kỳ thứ nhất (từ năm 1918 - Đại chiến Thế giới lần thứ 2): khái niệm “thdi độ” lần đầu tiên được sử dụng khi hai nhà Tâm lý học Mỹ W.Znaiecki nghiên cứu về sự thích ứng của những người nông dân Ba Lan khi họ di cư sang Mỹ. Chính sự thích nghi của họ với sự thay đổi môi trường ở xã hội Mỹ, sự thay đổi các giá trị cũ bằng các giá trị mới đã được hai ông chú ý tới. Từ sự phát hiện này của W.Znaiecki đã dẫn tới sự bùng nô các cuộc nghiên cứu về thái độ xã hội. Và các công trình nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu định nghĩa, cấu trúc, chức năng và mối quan hệ giữa thái độ - hành vi.
- Thời kỳ thứ 2 (từ Đại chiến Thế giới lần 2 - cuối những năm 50 của thế kỷ XX): biểu hiện cơ bản của thời kỳ này là sự hoài nghi vai trò của thái độ trong việc chi phối hành vi. Chính kết luận của La Piere: những gi chúng ta nói và chúng ta làm đôi khi rất khác nhau (nghĩa là khoảng cách giữa thái độ và hành vi là rất lớn - sau này kết luận này được mang tên “nghịch lý La Piere”) đã đặt nền móng cho sự hoài nghi trên. Kết luận này tuy không phủ nhận toàn bộ các cố gang nghiên cứu về thái độ thông qua sự biêu hiện băng lời của các công trình đi trước, nhưng vì nhiêu nguyên nhân khác nhau như: chiến tranh, hoặc có sự bế tắc trong việc lý giải các nghịch lý nảy sinh mà số lượng các công trình nghiên cứu về thái độ ở giai đoạn này có sự giảm sút đáng kể. - Thời kỳ thứ 3 (từ cuối những năm 50 đến nay): có thể nói đây là thời kỳ phục hồi của các nghiên cứu thái độ.
Và van đề thái độ đã có một vị trí xứng đáng trong các công trình nghiên cứu của Tâm lý học xã hội. đã tiếp tục đưa ra những quan niệm mới về định nghĩa, cấu trúc và chức năng của thái độ. Thời kỳ này cũng đã chứng kiến sự xuất hiện của những “tiểu lý thuyết” như: lý thuyết giải thích mỗi quan hệ giữa thái độ - hành vi, “thuyết bất đồng nhận thức”; “thuyết tự thể hiện”, “thuyết tự tri giác”, ly thuyết về các phương pháp nghiên cứu sự hình thành, thay đôi thái độ, các thang đo thái độ: “phương pháp điện cơ mat”, do quan điểm giáo điều, kỹ thuật “đường ống giả vờ - bogus pipeline” [13. Trong các nghiên cứu nhằm lý giải tại sao hành vi lại ảnh hưởng tới thái độ của con người có hai học thuyết gây ảnh hưởng khá lớn tới các nghiên cứu về sau.
Trước hết đó là thuyết bất đồng nhận thức hay còn gọi là thuyết tự bào chữa của Leon Festinger cho rằng: Bất đồng nhận thức diễn ra khi hành vi mâu thuẫn với thái độ. Theo thuyết này thì sự căng thắng giữa các hành vi và thái độ thường được chúng ta làm giảm bớt bằng cách bào chữa cho suy nghĩ chứ không phải hành động của mình. Tuy nhiên, không phải tất cả các nhà tâm lý học đều thoả mãn với học thuyết của Festinger. Daryl Bem là một ví dụ.
Ông cho rang quan điểm của thuyết “bất đồng nhận thức”' quá dựa vào yếu tố bên trong, những yếu tố khó lượng hóa, khó đo lường. Đồng thời, theo Dary Bem, chúng ta nên tránh những khái niệm như “nhận thức” hay “sự khó chiu về mặt tâm lý” và thay chúng bằng những thuật ngữ mang tính hành vi hơn. Và học thuyết tự tri giác của ông ra đời năm 1967. Đây là học thuyết về mối quan hệ giữa thái độ và hành vi.
Học thuyết này nhân mạnh: khi thái độ của chúng ta không 10 rõ ràng hoặc cường độ của nó quá yêu, chúng ta sẽ chỉ đơn giản quan sát hành vi của minh và tình huống mà nó diễn ra rồi suy luận về thái độ của bản thân. Khi bình luận về các công trình nghiên cứu ở phương Tây, các nhà tâm lí học Xôviết P. Petrovxki đã khang định rang: đặc điểm của tình trạng nghiên cứu thái độ thời gian nay ở phương Tây là có nhiều công trình và phương pháp cụ thể nghiên cứu thái độ, nhưng lại bế tắc về phương pháp luận trong việc lý giải các số liệu thực nghiệm, cũng như trong việc tìm kiếm cơ sở khách quan của thái độ |4, tr. Theo Lomoy, ý nghĩa của việc nghiên cứu thái độ trong tâm lí học phương Tây chỉ thể hiện ở việc giúp đỡ cho việc hệ thống hoá các số liệu kinh nghiệm.
Các hiện tượng được lý giải trong tâm lý học phương Tây có thê được quy về các thái độ, nhưng cơ sở khách quan của chúng không được làm rõ, hay đôi khi nói đến cơ sở khách quan của thái độ, người ta cố tìm ra các thuộc tính di truyền sinh lý của cá nhân [12, tr. Các nhà tâm lý học thuộc trường phái tâm lý học Mác xit đã có nhiều công trình nghiên cứu về thái độ thê hiện qua một số học thuyết như: thuyết định vi của V.Iadov, thuyết thái độ nhân cách của V. Thuyết định vị của V.AJadov cho rằng con người có hệ thống các tổ chức định vi phức tạp, được tô chức bốn bậc theo các mức độ khác nhau, định vị bậc cao có thé chi phối định vi bậc thấp [8, tr. Bậc 1: các tâm thé bậc thấp hình thành trên cơ sở các nhu cầu, các tình huống đơn giản; bậc 2: các định vị phức tạp hơn hình thành trên cơ sở các tình huống giao tiếp trong nhóm nhỏ; bậc 3: các định hướng chung của các sở thích được hình thành trong những lĩnh vực hoạt động xã hội cụ thê: bậc 4: hệ thống định hướng giá tri, điều chỉnh hành vi và hoạt động của nhân cách trong những tình huống nhất định.
11 Như vậy, theo lý thuyết nảy, tâm thế là một dạng định vi, điều chỉnh hành vi, phản ứng của cá nhân trong những tình huống đơn giản và nó giúp cho việc điều chỉnh hành vi của cá nhân trong nhóm nhỏ, trong nghề nghiệp, trong hệ thống xã hội. Điều này cho phép lý giải hợp lý hành vi xã hội của cá nhân cũng như mâu thuẫn giữa hành vi và thái độ. Tuy có những thành công nhất định nhưng thuyết này chưa làm rõ nội hàm khái niệm “định vi” và cơ chế điều chỉnh hành vi bằng những định vị trong tình huỗng xã hội. Tuy nhiên, thuyết “định vi” đã cho chúng ta cách nhìn nhận thái độ ở một góc độ mới, cho phép thiết lập sợi dây liên hệ giữa các cách tiếp cận vấn đề hành vi của nhân cách từ góc độ tâm lý học đại cương, xã hội học và tâm lý học xã hội.
Thuyết thái độ nhân cách của V. Miaxisev: Dựa trên tư tưởng “khía cạnh quan trọng cua nhân cách là thái độ cua ca nhân với môi trường, thai độ đối với nghề nghiệp, với sở hữu và với người khác” của A.Lazurxki và xuất phát từ lập trường Macxit, V. Miaxisev đã đề ra thuyết về thái độ chủ quan của cá nhân và đó là “thuyét thái độ nhân cách”.Miaxisev đã coi nhân cách như một hệ thống thái độ, ông viết: “thái độ, dưới dạng chung nhất, là hệ thống trọn vẹn các mối liên hệ cá nhân, có chọn lọc, có y thức cua nhân cách với các khía cạnh khác nhau cua hiện thực khách quan”. Miaxisev lại cho rằng: hiểu theo nghĩa rộng thì tat cả các dạng hoạt động tâm lý đều có thể xem như một dang nao đó cua thái độ, mọi nhu cau, hứng thú, thị hiếu, tinh cảm, ý chí, tính cách, các quá trình tâm lý, sự đánh giá đều là thái độ.
Như vậy, với “Thuyết thái độ nhân cách”, V.Miaxisev là một trong những người đặt nền móng cho sự ra đời của Tâm lý học thái độ theo quan điểm Macxit. Tuy vậy, lý thuyết này cũng còn những hạn chế như: chưa làm rõ được ảnh hưởng qua lại giữa quan hệ xã hội với thái độ chủ quan của cá nhân; việc xếp các quan hệ xã hội ngang hàng với thái độ, nhận thức, xúc cảm, ý chi, thị hiệu là chưa thỏa dang; và việc coi một loạt các hiện 12 tượng tâm lý đã nêu ở trên là thái độ là chưa có cơ sở khoa học. Tuy nhiên, chúng ta không thé phủ nhận những đóng góp to lớn của V.Miaxisev trong việc nghiên cứu vấn đề thái độ. Thuyết thái độ chủ quan của B.Lomov: Theo ông, tính chất và động thái của thái độ chủ quan được hình thành ở mỗi cá nhân phụ thuộc vào vị trí mà nó chiếm chỗ trong hệ thống các quan hệ xã hội và sự phát triển của nó trong hệ thống đó [12,tr.
Ngoài ra, Lomov khang định tính nhiều chiều, nhiều tầng và cơ động của thái độ chủ quan trong một hệ thống phức tạp được gọi là “không gian chủ quan đa chiều”, trong đó mỗi chiều đo trong không gian tương ứng với một thái độ chủ quan cụ thể nào đó và được E. Erikson gọi là các “cung thái độ có ý nghĩa”. Không gian chủ quan không phải lúc nào cũng trùng hợp với không gian các quan hệ xã hội ma các cá nhân tham gia một cách khách quan. Ta thường gặp sự “pha trộn” thái độ chủ quan của cá nhân với các quan hệ xã hội mà cá nhân tham gia một cách khách quan.
Lomov cũng cho răng, tuy thái độ là một thuộc tính tương đối ổn định, bền vững, phản ánh lập trường của cá nhân với hiện thực khách quan, nhưng thái độ chủ quan cũng có thay đổi, kéo theo sự thay đôi rất cơ bản trong biểu hiện của nhân cách. Theo ông, sự thay đôi vị trí khách quan của mỗi cá nhân trong xã hội đòi hỏi phải có sự đổi mới thái độ chủ quan của nó. Phương thức hình thành thái độ chủ quan của cá nhân được Lomov nêu ra là thông qua hoạt động và giao tiếp.