CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Lý thuyết về tài chính hành vi Nền tảng cơ bản của lý thuyết tài chính hành vi dựa vào khung kiến thức được xây dựng trên nguyên tắc kinh doanh chênh lệch giá của Miller và Modigliani (1958, 1961, 1963), lý thuyết thị trường hiệu quả của Markowitz (1952), lý thuyết định giá tài sản của Sharpe, Lintner và Black và lý thuyết quyền chọn giá của Black, Scholes và Merton (Black và ctg., 1995) cùng với giả định rằng các cá nhân kinh doanh trên thị trường giữ luật một giá (Glaser, Noth và Weber, 2004). Những nguyên tắc này xem xét thị trường hiệu quả và ở mức phân tích tiêu chuẩn cao, là một trong những khái niệm cốt lõi trong lý thuyết về thị trường hiệu quả.
Có nhiều định nghĩa về lý thuyết tài chính hành vi, theo Ricciardi và K.Simon (Ricciardi và ctg., 2000) lý thuyết tài chính hành vi được xây dựng dưa trên ba nền tảng chính là tâm lý học, xã hội học và tài chính. Đối tượng ra quyết định được nghiên cứu trong đề tài này là nhà đầu tư chứng khoán cá nhân, do vậy sử dụng lý thuyết tài chính hành vi là phù hợp. Mô hình cơ bản của lý thuyết tài chính hành vi được thể hiện ở hình 1 như sau: Tâm lý học Xã hội học Tài chính hành vi Tài chính Hình 1: Mô hình cơ bản lý thuyết tài chính hành vi (Nguồn: Ricciardi, Victor và Simon, Helen K. “What is Behavioral Finance?”.Business, Education & Technology, Vol.
5 ➢ Tâm lý học Tâm lý học là một ngành khoa học nghiên cứu các hành vi và quá trình suy nghĩ của con người. Một số hành vi của con người rất đơn giản nhưng hầu hết là rất phức tạp. Ngành tâm lý học thường giải thích các dạng khác nhau của hành vi liên quan đến hai khía cạnh sau: Một là: Sự tiến hoá của sinh vật học. Hai là: Những vấn đề liên quan đến bộ não con người.
Xã hội, văn hoá và những kinh nghiệm bản thân hình thành nên nhận thức, thái độ và hành vi con người. Khi nghiên cứu hành vi của các nhà đầu tư, khái niệm tâm lý học sẽ trả lời được một số câu hỏi như: Tại sao nhà đầu tư bị thu hút bởi loại cổ phiếu này, mà không phải loại cổ phiếu khác? Tại sao nhà đầu tư lại tỏ ra do dự khi mua cổ phiếu, mặc dù trước đó họ đã mặc cả để mua được cổ phiếu đó? Tại sao các nhà đầu tư cảm thấy vẫn phải giữ lại cổ phiếu mà họ biết đã tăng kịch trần, và thường là việc giữ lại cổ phiếu này làm giảm lợi nhuận của họ? Tại sao các nhà đầu tư vẫn không bán các cổ phiếu mình thua lỗ, khi vẫn biết cổ phiếu này đã đến giai đoạn suy tàn? Tại sao các nhà đầu tư lại cảm thấy chán mặc dù họ đã sỡ hữu một danh mục đầu tư tốt và cảm thấy mong muốn đầu tư thêm để tạo ra nhiều hoạt động cho mình? Tại sao các nhà đầu tư thường đầu tư theo lời bạn bè người thân báo chí… hơn là các thông tin đã được công bố? ➢ Xã hội học: Là ngành khoa học nghiên cứu các hành vi trong xã hội của con người. Tập trung nghiên cứu chủ yếu việc ảnh hưởng của các mối quan hệ xã hội với thái độ và hành vi của con người. Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của con người bao gồm: ▪ Cấu trúc xã hội: gia đình, tổ chức mà con người đang sinh hoạt,… ▪ Phạm trù xã hội: tuổi tác, giới tính, chủng tộc,… ▪ Những vấn đề thành lập xã hội : quan hệ họ hàng, kinh tế, chính trị, tôn giáo,… ➢ Tài chính: Ở khía cạnh tài chính chủ yếu đề cập đến việc xác định giá trị và ra quyết định đầu tư.
Cấu trúc của tài chính liên quan đến vấn đề vốn, giá cả, đầu tư và nguồn lực quản lý. 6 ▪ Thị trường tài chính là các thể chế, quá trình và cơ cấu giúp cho các công ty và cá nhân kinh doanh có thể huy động vốn để triển khai và thực hiện mục tiêu hoạt động. ▪ Tầm quan trọng của thị trường tài chính nằm ở khía cạnh liên kết giữa các quyết định chi tiêu của con người, trong cả đời sống cá nhân, gia đình lẫn xã hội. Cá nhân và nhà kinh doanh luôn có thể đóng vai trò hoặc thụ động hoặc chủ động trên thị trường tài chính.
Đối với cá nhân, thị trường tài chính giúp cải thiện nguồn thu nhập và tối ưu hóa tài sản trong tương lai. Đối với công ty, nó tăng cường nguồn lực và cải thiện hiệu quả quản trị tài chính. ▪ Ở một góc độ khác, thị trường tài chính là nơi các tài sản tài chính được trao đổi và giá của chúng được hình thành bởi các lực lượng tham gia. Trong nghiên cứu này không khảo sát cả ba nền tảng của lý thuyết tài chính hành vi, mà chỉ tập trung khảo sát các yếu tố tài chính có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân.
Nghiên cứu của Nagy và Obenberger (1994) Nghiên cứu của Nagy và Obenberger về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân, nghiên cứu được thực hiện năm 1994, trong bối cảnh tình hình thị trường chứng khoán Mỹ đang phát triển, chỉ số S&P 500 vào tháng 4/1994 là 444. (Tại thời điểm thực hiện nghiên cứu này, trong giai đoạn tháng 07/2011 chỉ số VN-index dao động trung bình quanh ngưỡng 422. Nghiên cứu này xem xét các yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân. Hai câu hỏi được đặt ra trong nghiên cứu này là : Những yếu tố nào tác động đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân? Trong những yếu tố tác động trên, có hình thành nên những nhóm yếu tố tác động đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân hay không? Trong nghiên cứu này, 500 bảng câu hỏi đã được phát ra và có 137 bảng trả lời đã được sử dụng, những người tham gia được yêu cầu đánh giá tầm quan trọng của 34 yếu tố.
Kết quả cho thấy việc tối đa hóa lợi ích rất quan trọng đối với nhà đầu tư cá nhân và có 7 nhóm yếu tố tác động đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân là: 7 (1) Thông tin trung lập (2) Thông tin kế toán (3) Thông tin về hình ảnh, danh tiếng của công ty (4) Nhóm yếu tố cơ bản (lợi nhuận kỳ vọng, cổ tức kỳ vọng, rủi ro cá nhân.) (5) Yếu tố xã hội (6) Những khuyến nghị đầu tư của các tổ chức, cá nhân, bạn bè (7) Nhu cầu tài chính cá nhân 1. Nghiên cứu của Al-Tamimi (2005) ở UAE –Dubai Nghiên cứu của Al-Tamimi (2005) về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân, được tác giả thực hiện nghiên cứu tại hai thị trường tài chính lớn cuả UAE (UAE là một đất nước được thành lập năm 1971 khi bảy tiểu vương quốc Ả Rập sát nhập). Nghiên cứu này dựa trên nghiên cứu của Nagy và Obenberger (1994) từ 34 yếu tố tác động đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân được tác giả lựa chọn, điều chỉnh lại cho phù hợp với nhà đầu tư cá nhân tại UAE (tại các tiểu vương quốc Ả Rập). Trong nghiên cứu này, 350 bảng câu hỏi được phát ra và 343 bảng câu hỏi hợp lệ được thu thập từ các nhà đầu tư cá nhân tại Dubai (203)và Abu Dhabi (140).
Đây là 2 trong số 7 tiểu vương quốc lập nên Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE). Kết quả nghiên cứu này đưa ra được 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân cụ thể như sau: - Sự nhận thức từ bản thân Trong nhóm yếu tố nhận thức từ bản thân, tác giả đưa ra 10 yếu tố thành phần: ➢ Ấn tượng về sản phẩm, dịch vụ của công ty. ➢ Vị trí của công ty trong ngành. ➢ Danh tiếng của công ty.
➢ Mang đến sự giàu sang nhanh chóng. ➢ Sự hình thành của các tổ chức tài chính thị trường. ➢ Chuẩn mực đạo đức của công ty. 8 ➢ Cảm nhận về nền kinh tế.
➢ Khả năng giải quyết các vấn đề của công ty. ➢ Danh tiếng của các cổ đông. - Thông tin kế toán: Nghiên cứu đã đưa ra 7 yếu tố thành phần ➢ Khả năng bán được của cổ phiếu. ➢ Lợi nhuận kỳ vọng kiếm được.
➢ Tình hình tài chính. ➢ Cổ tức được trả. ➢ Khả năng giá cổ phiếu. ➢ Cổ tức kỳ vọng ➢ Thông tin quá khứ của cổ phiếu.
- Thông tin trung lập Nghiên cứu đã đưa ra 7 yếu tố thành phần trong nhóm yếu tố thông tin trung lập. ➢ Giá gần đây của cổ phiếu. ➢ Thông tin trên internet. ➢ Chỉ số chứng khoán.
➢ Động thái từ văn phòng Chính Phủ. ➢ Chỉ số từ nền kinh tế hiện tại. ➢ Mức độ tham gia của đám đông. ➢ Cổ phần chính phủ.
- Sự giới thiệu: Nghiên cứu đã đưa ra 3 yếu tố ➢ Sự giới thiệu của người môi giới. ➢ Ý kiến của người thân. ➢ Ý kiến của những người nắm giữ cổ phiếu chính trong công ty. - Nhu cầu tài chính cá nhân: Nghiên cứu đã đưa ra 6 yếu tố thành phần 9 ➢ Sự hấp dẫn từ những thị trường đầu tư khác.
➢ Sự đa dạng hóa cần thiết. ➢ Rủi ro thấp. ➢ Kỳ vọng thất bại trong thị trường tài chính quốc tế. ➢ Sự thoải mái của những quỹ tín dụng.
➢ Kỳ vọng thất bại trong thị trường tài chính nội địa. Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan về thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là một thị trường tại đó cổ phiếu được mua và bán (Zuravicky, 2005). Trong một nền kinh tế, bên cạnh vai trò là nguồn đầu tư tài chính, thị trường chứng khoán còn thực hiện chức năng như một cơ chế báo hiệu cho các nhà quản lý về các quyết định đầu tư và là chất xúc tác cho quản trị doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán được biết đến là kênh hiệu quả nhất để tăng vốn của công ty (Zuravicky, 2005). Mọi người quan tâm đến chứng khoán vì sự tăng trưởng dài hạn của vốn, cổ tức và hàng rào chống lại sự xói mòn lạm phát của sức mua. Tính năng khác làm cho thị trường chứng khoán hấp dẫn hơn các loại hình đầu tư khác là tính thanh khoản của nó. Có thể coi thị trường chứng khoán là thước đo cho sức mạnh và sự phát triển kinh tế.