chương I đến XXIV (trừ và sản phẩm cá) và một số sản phẩm thuộc các chương khác 13 trong Hệ thống thuế mã HS, đồng thời không bao gồm các sản phẩm của hoạt động chăn nuôi và các ngành lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp. Nông sản được chia làm 7 loại chính bao gồm: Gạo, cà phê, điều, hồ tiêu, chè, rau quả, sắn và các sản phẩm từ sắn theo Thông tư 37/2018/TT-BNNPTNT về Danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia, nông sản chủ lực Việt Nam. Bên cạnh đó, có thể phân loại nông sản thành 3 loại dựa vào công dụng của chúng, cụ thể như sau: Nông nghiệp thiết yếu: Loại nông sản này được con người sử dụng hàng ngày để duy trì sự sống bao gồm gạo, lúa mì, bột mì, sữa, rau quả tươi,… Nông sản phái sinh: Loại nông sản này được con người sử dụng để bổ sung những dưỡng chất để cơ thể phát triển, tăng sức đề kháng chống lại bệnh tật, bao gồm bánh mì, bơ, dầu ăn,… Nông sản được chế biến: Là những mặt hàng đã trải qua nhiều giai đoạn chế biến khác nhau, thành phần và cấu trúc của nông sản đã bị thay đổi so với trạng thái ban đầu như bánh kẹo, nước ngọt, bia, bông xơ,… 1. Đặc điểm của nông sản Bản chất của mặt hàng nông sản là kết quả của quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
Vì vậy, nông sản sẽ mang một số đặc điểm của hoạt động sản xuất nông nghiệp bao gồm: (1) Nông sản có tính đa dạng Ở mỗi vùng miền khác nhau có điều kiện tự nhiên và khí hậu khác nhau, vì vậy sẽ có những mặt hàng nông sản tương ứng. Bên cạnh đó tính đa dạng của nông sản Việt Nam đem lại nhiều khó khăn. Việc sản xuất không đồng bộ, rời rạc chưa đem lại hiệu quả cao. Mỗi vùng, miền sản xuất và canh tác mỗi kiểu nên chất lượng nông sản chưa đồng đều, nông sản tạo ra chất lượng không cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường.
(2) Nông sản mang tính thời vụ Quá trình sản xuất, thu hoạch và tiêu thụ nông sản phụ thuộc vào mùa vụ gieo trồng do vậy luôn mang tính thời. Do đó mà chúng ta thường hay nghe được cụm từ là trái vụ, chính vụ. Tính mùa vụ hay sự thiếu hụt trong nguồn cung do nhiều yếu tố cũng khiến cho giá nông sản xuất khẩu thường lên xuống thất thường. Vào những lúc chính vụ, hàng nông sản dồi dào thì giá thường bán.
Ngược lại, vào những lúc trái vụ, hàng thường khan hiếm, thì giá bán sẽ tăng cao. Bên cạnh đó, do đặc tính thu hoạch theo thời vụ nên hoạt động thu hoạch hàng nông sản thường chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, giá biến động làm 14 cho hoạt động xuất khẩu nông sản phải thường xuyên đối mặt với tình trạng được mùa mất giá. Vào chính vụ các điều kiện thuận lợi , mặt hàng nông sản thường dồi dào, phong phú về chủng loại, chất lượng khá đồng đều. Do số lượng nông sản quá nhiều nên bị đẩy giá thường rất thấp.
Ngược lại, khi trái vụ thì nông sản khan hiếm, chất lượng không đều nhau và giá bán thường cao. (3) Nông sản chịu nhiều ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên Quá trình sản xuất các mặt hàng nông sản Việt Nam chịu tác động rất lớn bởi các điều kiện tự nhiên như: mưa, nắng nóng, lũ lụt, sương muối, tuyết…Những điều kiện tự nhiên là nhân tố quan trọng quyết định đến năng suất, chất lượng của nông sản. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt thì sản xuất đạt năng suất cao các mặt hàng nông sản có chất lượng tốt và đồng đều. Ngược lại, nếu điều kiện tự nhiên không thuận lợi như nắng nóng hoặc giá rét kéo dài gây hạn hán hoặc bão lụt sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và sản lượng cây trồng, từ đó dẫn đến các mặt hàng nông sản cũng khan hiếm và chất lượng thấp.
(4) Nông sản chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi người tiêu dùng Nông sản là các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người. Vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và đời sống của con người. Chính vì vậy, chất lượng nông sản luôn là tiêu chí đầu tiên được người tiêu dùng quan tâm khi quyết định mua hàng. Chất lượng nông sản sẽ là tiêu chí cho các mặt hàng nông sản khi muốn xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài.
Chất lượng sẽ thông qua các yêu cầu về: An toàn vệ sinh thực phẩm, lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nông sản, nhiễm kim loại nặng, nhiễm vi sinh vật gây hại…Mặt hàng nông sản Việt Nam phải đáp ứng được những tiêu chí này thì mới đủ điều kiện để xuất khẩu sang nước ngoài và khẳng định mình trên trường quốc tế. Xuất khẩu nông sản a. Khái niệm: Theo Smith (1976), khi tập trung chuyên môn hóa sản xuất những mặt hàng mà bản thân quốc gia có lợi thế tuyệt đối thì có thể sản xuất ra một lượng lớn hàng hóa, có thể dư thừa với nhu cầu sử dụng trong nước nên được mang ra trao đổi với bên ngoài. Còn theo Ricardo thì nếu quốc một quốc gia sản xuất và đem trao đổi mặt hàng mình có lợi thế so sánh với quốc gia khác thì cả hai quốc gia đều có lợi.
Như vậy khi phân công lao động quốc tế đạt đến trình độ nhất định thì thương mại sẽ xảy ra. Trước đây thương mại được hiểu là hình thức trao đổi hàng đổi hàng, sau đó xuất hiện các phương tiện thanh toán 15 trung gian như tiền, séc. Thương mại phát triển ngày càng phức tạp hơn qua cách hình thức như thương mại điện tử, cho thuê tài chính, mua bán nợ thương mại…liên kết chặt chẽ hơn nhưng cũng cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn. Trên cơ sở về thương mại hàng hóa, XKNS có thể hiểu là: Xuất khẩu nông sản là hoạt động trao đổi nông sản của một quốc gia với các nước khác trên thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm khai thác lợi thế sẵn có của đất nước trong phân công lao động quốc tế, tạo ra lợi thế cạnh tranh đem lại lợi ích cho quốc gia.
Tác giả Ngô Thị Mỹ (2016), cho rằng: xuất khẩu nông sản là hoạt động trao đổi nông sản của một quốc gia với các nước khác trên thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thế sẵn có của đất nước trong phân công lao động quốc tế nhằm đem lại lợi ích cho quốc gia. Đồng quan điểm trên, Phan Thu Trang (2020) cũng đưa ra khái niệm “xuất khẩu nông sản là việc đưa các loại hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp - nông sản ra khỏi lãnh thổ Việt Nam”. Trong đó, nông sản được hiểu là các loại hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp và xuất khẩu ở đây được hiểu là hàng hóa nông sản phải ra khỏi lãnh thổ Việt Nam và đi vào thị trường các nước khác trên thế giới. Như vậy, xuất khẩu nông sản hay xuất khẩu hàng nông sản là hoạt động kinh doanh nhằm mục đích đưa nông sản vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia.
Hoạt động này có sự tham gia của nhiều chủ thể, có quan hệ mua bán phức tạp được tổ chức cả bên trong và bên ngoài của một quốc gia với mục đích thúc đẩy hàng hoá nông sản phát triển ổn định và đem lại lợi ích cho quốc gia với nhiều hình thức như: xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu qua trung gian và hình thức tái xuất khẩu b. Vai trò của hoạt động xuất khẩu nông sản đối với nền kinh tế: - Đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước Xuất khẩu các loại hàng hóa nói chung và hàng nông sản nói riêng đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, thể hiện ở chỗ chiếm phần lớn trong tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam (GDP), thu nhiều ngoại tệ về cho đất nước. Nông sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Xuất khẩu nông sản càng lớn thì càng góp phần làm tăng GDP, thể hiện được năng lực cạnh tranh của đất nước về xuất khẩu.
Kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng cao góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. 16 - Thu về nguồn ngoại tệ lớn, tạo nguồn vốn nhập khẩu công nghệ hiện đại Hoạt động xuất khẩu nông sản có ý nghĩa thiết thực: nông sản là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, không những thu về rất một nguồn ngoại tệ lớn tạo nguồn vốn cho hoạt động nhập khẩu công nghệ tiến tiến mà quan trọng hơn còn là cơ hội phát huy các lợi thế so sánh của đất nước, mở rộng các ngành nghề sản xuất, giải quyết vấn đề công ăn việc làm cho xã hội. - Tạo động lực cho doanh nghiệp mở rộng quy mô, hiện đại hóa công nghệ, kỹ thuật sản xuất Hiện nay, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế là xu thế tất yếu và mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp, mở rộng quan hệ với các đối tác nước ngoài, học tập phong cách quản lý, tiếp thu tiến bộ khoa học công nghệ quản lý kinh doanh. Nhờ xuất khẩu mà các doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô sản xuất, từng bước tăng trưởng và phát triển, từ đó đáp ứng nhu cầu đầy đủ của thị trường trong và ngoài nước với những đơn hàng có giá trị lớn, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, để đáp ứng những yêu cầu ngày càng gắt gao của những thị trường xuất khẩu khó tính, doanh nghiệp cần liên tục cải tiến công nghệ kỹ thuật và nâng cao chất lượng sản phẩm. - Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại Sự phát triển mạnh mẽ và bền vững của hội nhập kinh tế quốc tế và thương mại quốc tế, trong đó xuất khẩu là một hoạt động đóng góp trực tiếp làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước theo hướng hiện đại, phát huy lợi thế so sánh trong từng ngành. Việc xuất khẩu thu ngoại tệ về và sử dụng ngoại tệ để nhập khẩu các nguyên vật liệu, công nghệ kỹ thuật hiện đại,. tác động đến cơ cấu sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, thay đổi cách làm việc.
Từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm nông sản, của doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu nông sản, của quốc gia xuất khẩu nông sản.