CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ THỎA MÃN CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN 1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Quản trị nguồn nhân lực Quản trị nguồn nhân lực là bộ môn khoa học về quản lý con người dựa trên niềm tin cho rằng, nhân lực ñóng vai trò quan trọng bậc nhất tới sự thành công lâu dài của tổ chức, là quá trình phân tích, ñánh giá, hoạch ñịnh, quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm ñạt ñược các mục tiêu của tổ chức. Một tổ chức có thể tăng lợi thế cạnh tranh của mình bằng cách sử dụng người lao ñộng một cách hiệu quả, tận dụng kinh nghiệm và sự khéo léo của họ nhằm ñạt ñược các mục tiêu ñã ñặt ra.
Mục ñích của quản trị nguồn nhân lực là tuyển chọn ñược những người có năng lực, nhanh nhạy và cống hiến trong công việc, quản lý hoạt ñộng và khen thưởng kết quả hoạt ñộng cũng như phát triển năng lực của họ (Nguyễn Vân ðiềm, Nguyễn Ngọc Quân,2012). Bất kỳ tổ chức, doanh nghiệp nào khi tiến hành các hoạt ñộng sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ công cũng ñều phải hội ñủ hai yếu tố, ñó là nhân lực và vật lực. Trong ñó, nhân lực ñóng vai trò cực kỳ quan trọng, có tính quyết ñịnh tới sự tồn tại và phát triển của tổ chức. - Hiện nay do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường nên các tổ chức doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển buộc phải cải tiến tổ chức của mình theo hướng tinh giảm gọn nhẹ, năng ñộng, trong ñó yếu tố con người mang tính quyết ñịnh.
Con người sử dụng kỹ năng, trình ñộ của mình, công cụ lao ñộng tác ñộng vào ñối tượng lao ñộng ñể tạo ra sản phẩm hàng hoá cho xã hội. Quá trình này cũng ñược tổ chức và ñiều khiển bởi con người. Con Luan van 7 người thiết kế và sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ, kiểm tra chất lượng, ñưa sản phẩm ra bán trên thị trường, phân bố nguồn tài chính, xác ñịnh các chiến lược chung và các mục tiêu cho tổ chức. Không có lực lượng lao ñộng gắn bó, làm việc có hiệu quả thì mọi tổ chức ñều không thể nào ñạt ñến các mục tiêu của mình.
- Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ ñi ñôi với sự phát triển kinh tế buộc các nhà quản trị ở khu vực tư cũng như khu vực công phải biết làm cho tổ chức của mình thích ứng. Do ñó, việc thực hiện các nội dung hoạch ñịnh, tuyển dụng, duy trì, phát triển, ñào tạo, ñộng viên và tạo mọi ñiều kiện thuận lợi cho con người gắn bó với mục tiêu chung cao thượng thông qua tổ chức, nhằm ñạt ñược mục tiêu ñã ñịnh trước là vấn ñề quan tâm hàng ñầu của Nhà quản lý cấp cao. - Nghiên cứu vấn ñề quản trị nguồn nhân lực giúp cho nhà quản lý tổ chức ñạt ñược mục ñích, kết quả thông qua người khác. Một nhà quản trị xuất sắc có thể lập kế hoạch hoàn chỉnh, xây dựng sơ ñồ tổ chức rõ ràng, có hệ thống kiểm tra hiện ñại chính xác., nhưng nhà quản trị ñó vẫn có thể thất bại nếu không biết tuyển ñúng người cho ñúng việc, hoặc không biết cách khuyến khích nhân viên nhân viên gắn bó với công việc.
ðể quản trị có hiệu quả, nhà quản trị cần biết cách làm việc và hòa hợp với người khác, biết cách lôi kéo người khác làm cho mình. - Quản trị nguồn nhân lực giúp cho các nhà quản lý học ñược cách giao dịch, trao ñổi với người khác và biết tìm ra ngôn ngữ chung và biết nhạy cảm với nhu cầu của nhân viên nhân viên, biết cách ñánh giá nhân viên chính xác, biết lôi kéo nhân viên say mê với công việc, tránh ñược các sai lầm trong tuyển chọn, tuyển dụng, sử dụng nhân viên nhân viên, biết cách phối hợp thực hiện mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của các cá nhân, nâng cao hiệu quả của tổ chức và dần dần có thể ñưa chiến lược con người trở thành một bộ Luan van 8 phận hữu cơ gắn bó với sứ mệnh của tổ chức, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác của tổ chức. Hành chính công Theo quan niệm của một số nhà nghiên cứu, học giả hành chính học thì họ cho rằng, hành chính công bao gồm luật pháp, các quy tắc, quy chế, thiết chế. ñể ñiều tiết hoạt ñộng quyền hành pháp.
Cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của tổ chức bộ máy hành chính cũng như mối quan hệ mà trong ñó các công chức làm việc. Hành chính công còn bao gồm những ñội ngũ nhân viên công chức làm việc trong bộ máy hành chính công quyền. Những người này là người có trách nhiệm thực thi công vụ nhà nước họ ñược giao. Ba yếu tố trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, không thể quan niệm yếu tố này quan trọng hơn yếu tố kia.
Do ñó, có thể ñi ñến khái niệm chung vê hành chính công như sau: Hành chính công là sự tác ñộng có tổ chức và ñiều chỉnh bằng quyền lực nhà nước ñối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt ñộng của công dân, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp từ Trung ương ñến cơ sở tiến hành ñể thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự an ninh, thoả mãn nhu cầu hợp pháp của công dân. Khái niệm công chức Thuật ngữ công chức ñược sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, ñể chỉ những người giữ công vụ thường xuyên trong các cơ quan, tổ chức nhà nước. Thuật ngữ công chức là thuật ngữ có tính lịch sử, hình thành trong ñiều kiện nhất ñịnh, cùng với chế ñộ công vụ (công vụ ở ñây ñược hiểu theo nghĩa là công việc hoạt ñộng nhà nước chủ yếu do công chức nhà nước thực hiện dựa trên cở sở quyền lực ñó ñể thực thi các nhiệm vụ, chức năng Luan van 9 của nhà nước) trong tiến trình phát triển của nhà nước và xã hội. Nội dung của nó phụ thuộc rất nhiều vào ñặc ñiểm chính trị, kinh tế - xã hội của từng giai ñoạn lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia.
Ở nước ta, lần ñầu tiên thuật ngữ “công chức” ñược ghi nhận trong Quy chế công chức Việt Nam ban hành theo Sắc lệnh số 76/SL ngày 20-5-1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Quy chế này, phạm vi công chức rất hẹp chỉ bao gồm những người làm việc thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, tức là những người làm việc trong hệ thống hành chính nhà nước. Tuy nhiên, do ñiều kiện cả nước phải tập trung vào cuộc kháng chiến dành ñộc lập dân tộc, nên Quy chế công chức không ñược thực hiện ñầy ñủ. Trong những năm 1960-1980, hoạt ñộng của nhân viên công chức ñược ñiều chỉnh bằng những quy ñịnh của pháp luật lao ñộng nói chung.
Cùng với quá trình ñổi mới toàn diện ñất nước, thuật ngữ công chức ñược sử dụng lại trong các văn kiện của ðảng và văn bản pháp luật của Nhà nước. Ngày 25-5- 1991 Chủ tịch Hội ñồng Bộ trưởng ñã ban hành Nghị ñịnh 169/HðBT xác ñịnh khái niệm công chức: “Công dân Việt Nam ñược tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong công sở Nhà nước ở trung ương hay ñịa phương, ở trong nước hay ngoài nước ñã ñược thu xếp vào một ngạch hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức”. Khái niệm này nêu khá ñầy ñủ các dấu hiệu cơ bản của công chức trong nền hành chính hiện ñại. Ngày 26-2-1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ñã thông qua Pháp lệnh nhân viên công chức.
ðây là cơ sở pháp lý quan trọng ñể Nhà nước quản lý và xây dựng ñội ngũ nhân viên công chức. Do yêu cầu thực tiễn, ngày 29-4- 2003, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ñã thông qua Pháp lệnh sửa ñổi bổ sung một số ñiều của Pháp lệnh nhân viên công chức, trong ñó làm rõ ñối tượng ñiều chỉnh nhân viên công chức hành chính, sự nghiệp, bổ sung nhân viên Luan van 10 chuyên trách ở xã, phường, thị trấn vào phạm vi ñiều chỉnh của Pháp lệnh, ñồng thời, xây dựng chế ñộ công chức dự bị trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị xã hội. Nghị ñịnh 117/2003/Nð-CP ngày 10/10/2003 về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý nhân viên, công chức trong các cơ quan nhà nước ñã làm rõ hơn khái niệm công chức. Công chức nêu tại nghị ñịnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước ñược quy ñịnh tại ñiểm b, ñiểm c, ñiểm e, khoản 1, ñiều 1 của pháp lệnh Nhân viên, công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
Công chức là những người ñược nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc ñược giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc trong cơ quan, ñơn vị thuộc quân ñội nhân dân hay công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, ñược phân loại theo trình ñộ ñào tạo, ngành chuyên môn, ñược xếp vào một ngạch hành chính trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Những quy ñịnh trên cho ta thấy các dấu hiệu liên quan ñến nhân viên công chức gồm: + Là công dân Việt Nam, trung thành với chế ñộ xã hội chủ nghĩa; + ðược tuyển dụng bởi nhà nước; + ðược bổ nhiệm vào một chức vụ trong bộ máy hành chính Nhà nước và làm việc thường xuyên; + ðược hưởng chế ñộ lương, bảo hiểm, hưu trí theo luật ñịnh. Theo luật Nhân viên, công chức ñược Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008.