Chương 1: Cơ sở lý thuyết - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Kết quả nghiên cứu - Chương 4: Bình luận kết quả và hàm ý chính sách 7. Tổng quan tài Nghiên cứu về sự thỏa mãn đối với công việc mặc dù đã phổ biến ở nước ngoài. Tuy nhiên, ở Việt Nam các nghiên cứu cũng như tài liệu ở lĩnh vực này còn hạn chế. Dưới đây là tổng quan một số tài liệu mà tác giả đã sử dụng cho nghiên cứu của mình: + Herzberg (1959), Two Factor Theory: Motivation Factors, Hygienne Factors.
Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng sự thỏa mãn công việc bị tác động. bởi hai nhân tố: nhân tố duy trì và nhân tố thúc đây. Các biến đo lường của các nhân tố này được tác giả vận dụng vào nghiên cứu của mình. (1969), The measurement of satisfaction in work and retirement, Chicago: Rand McNally.
Nghién ciru đã xây dựng chỉ số đánh giá mức độ thỏa mãn công việc JDI dựa trên các biến sau: bản chất công việc; lương; sự giám sát của cấp trên; đào tạo thăng tiến; đồng nghiệp. Mô hình JDI đã được các nhà nghiên cứu sử dụng khá phô biến trong việc nghiên cứu mức độ thỏa mãn công việc của nhân viên ở các lĩnh vực khác nhau và các quốc gia khác nhau. + Weiss at al (1967), Manual for the Minnesota saticfaction Questionnaire: “Minnesota studies in vocational rehabilitations”. Minneapolis: Industrial Relation Center, The University of Minnesota Press.
Nghiên cứu đã đưa ra mô hình MSQ thông qua bang câu hỏi đo lường mức độ thỏa mãn công việc gồm 20 câu hỏi khảo sát đánh giá như: năng lực bản thân, thăng tiến, điều kiện làm viêc,., mô hình MSQ cũng được sử dụng nhiều trong nghiên cứu về sự thỏa mãn công việc. Hạn chế của mô hình là bảng câu hỏi sử dụng thang đo quá dài bao gồm 100 mục và bảng câu hỏi ngắn 20 câu hỏi dẫn đến sai lệch trong kết quả nghiên cứu. Một số biến đo lường mức độ thỏa mãn trong nghiên cứu này được tác giả vận dụng và xây dựng thang đo bảng câu hỏi khảo sát cho luận văn. + Luddy, Nezaam (2005), Job satisfaction amongst employees at a public healthe institution in the Western Cape, University of Western Cape, south Africa.
Nghién ctru da sir dung mô hình JDI của Smith và cộng sự (1969) và thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959) để nghiên cứu sự thỏa mãn công việc .D (2007), A national study of job satisfaction factors among faculty in physician assistant education, Eastern Michigan University. Nghiên cứu dựa trên cơ sở sử dụng thuyết hai nhân tố của Herzberg và chỉ số mô tả công việc JDI của Smith, Kendall & Hulin. Theo Boeve, nhân tổ tạo sự thỏa mãn công việc được chia làm hai nhóm. Nhóm bên trong gồm bản chất công việc, cơ hội thăng tiến.
Nhóm bên ngoài: tiền lương, sự hỗ trợ của cấp. trên, quan hệ với đồng nghiệp. Mục đích của nghiên cứu này là kiểm định tính đúng đắng của hai thuyết trên. + Trần Kim Dung (2005) đã thực hiện nghiên cứu đo lieing mức độ thỏa mãn công việc của nhân viên văn phòng ở thành phố Hô Chí Minh.
Bằng cách sử dụng mô hình JDI của Smith & etg (1969) và thêm vào hai biến cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm. kiểm định thang đo JDI cũng như xác định mức ảnh hưởng của các nhân tố trong mô hình ảnh hưởng như thế nào đến mức độ thỏa mãn công việc của nhân viên ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của Trần Kim Dung (2005) với giá trị 4.674 với thang đo Likert bảy mức độ.
+ Nguyễn Thị Hồng My (2012), Nghiên cứu sự thỏa mãn của nhân viên khối văn phòng tại cục thuế Quảng Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng. Nghiên cứu đã luận hóa các lý thuyết liên quan đến sự thỏa mãn trong công việc. Kết quả nghiên cứu phần nào cho thấy khi sự thỏa mãn được xem xét dưới từng nhân tố riêng biệt thì nhân viên khối văn phòng tại cục thuế Quảng Nam thỏa mãn cao nhất với điều kiện làm việc. Tiếp đến là thỏa mãn đối với đồng nghiệp, đặc điểm công việc, cấp trên, phúc lợi công ty và thu nhập.
Nhân tố có sự thỏa mãn thấp nhất là đào tạo thăng tiến. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy sự thỏa mãn công việc của nhân viên văn phòng tại cục thuế Quảng. Nam là chưa cao, chi dat 3.73 với thang do Likert nam mức độ. + Nguyễn Hòa (2013), Nghiên cứu sự hài lòng đối với công việc của cán bộ công chức các cơ quan hành chính, sự nghiệp Quận Ngũ Hành Sơn, Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ thỏa mãn công việc của cán bộ công chức Quận là 5.44 với thang đo Likert bảy mức độ. Nhìn chung kết quả nghiên cứu sự thỏa mãn đối với công việc của cán bộ công chức quận Ngũ Hành Sơn cao hơn so với các nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng My (2012), Trần Kim Dung (2005). Cùng một số tài liệu, luận văn của các tác giả nghiên cứu trước khác. Các nghiên cứu này là cơ sở cho quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài luận văn của tác giả.
CHUONG 1 CO SO LY THUYET VA THUC TIEN VE SU THOA MAN CONG VIEC 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ THỎA MÃN CÔNG VIỆC 1. Các định nghĩa Hiện nay có khá nhiều các định nghĩa về sự thỏa mãn công việc do các tác giả trên thế giới đã công bố. Các định nghĩa về sự thỏa mãn công việc: ~ Định nghĩa của Robert Hoppock (1935), trích dẫn bởi Scott và cộng sự (1960) cho rằng, việc đo lường sự thỏa mãn công việc bằng hai cách: (1) đo lường sự thỏa mãn công việc nói chung, (2) đo lường sự thỏa mãn công việc ở các khía cạnh khác nhau liên quan đến công việc.
~ Wroom (1964) định nghĩa rằng thỏa mãn của nhân viên là trạng thái mà người lao động có định hướng hiệu quả rõ ràng đối với công việc ~ Weiss (1967) định nghĩa rằng thỏa mãn trong công việc được thẻ hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động, - Theo Porter — Lawer (1968) thi sự thỏa mãn là thái độ hình thành từ sự chênh lệch giữa những phần thưởng mà nhân viên nhận được mà họ tin rằng họ đáng được nhận. - Smith, Kendan & Hulin (1969) mức độ thỏa mãn với các thành phần hay khía cạnh của công việc là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc (bản chất công việc; đào tạo và thăng tiến; lãnh đạo; đồng nghiệp; tiền lương) của họ. ~ Loeke (1976) thì cho rằng thỏa mãn trong công việc được hiểu là người lao động thực sự cảm thấy thích thú đối với công việc của họ. ~ Quinn & Staines (1979) thì cho rằng sự thỏa mãn trong công việc là phản ánh tích cực đối với công việc.
~ Dawis & Lofquist (1984) định nghĩa sự thỏa mãn công việc là kết quả của việc xem xét mức độ mà môi trường làm việc của người lao động đáp ứng các nhu cầu cá nhân của họ. - Balzer (1997) xác định sự thỏa mãn công việc là những cảm xúc của nhân viên về công việc hoặc kinh nghiệm công việc của mình liên quan đến kinh nghiệm trước đây, kỳ vọng hiện tại, hoặc các lựa chon thay thế có sẵn. - Staples & Higgins (1998), sự thỏa mãn nhân viên nhìn chung được cảm nhận thông qua phạm vi của công việc và thái độ tích cực đối với môi trường làm việc. ~ Elliekson & Logsdon (2001) thì cho rằng sự hài lòng trong công việc được định nghĩa dựa trên mức độ yêu thích công việc, thái độ và nhận thức của nhân viên đối với công việc đó.
- Kusku (2003) cho rằng sự thỏa mãn của nhân viên phản ánh mức độ mà những nhu cầu, mong muốn của cá nhân được đáp ứng và cảm nhận. - Sehemerhon (1993, được trích dẫn bởi Luddy, 2005) định nghĩa sự thỏa mãn công việc như là sự phản ứng về mặc tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau đới với công việc của nhân viên. Tác giả nhấn mạnh các nguyên nhân của sự thỏa mãn công việc bao gồm vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ, và các phần thưởng thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường làm việc, cũng như cơ cấu của tô chức. Theo Kreitner & Kinicki (2007) sự thỏa mãn công việc phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc của mình.
Nhìn chung, có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về sự thỏa mãn công việc. Qua các công trình nghiên cứu về sự thỏa mãn trong công việc, các nghiên cứu cũng đã chỉ ra được các nguyên nhân dẫn đến sự thỏa mãn trong công việc. Do đó, luận văn chọn nghiên cứu cũng dựa trên các nhân tố này va từ đó có các điều chỉnh phù hợp đối với đối tượng nguyên cứu, nơi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của đề tài. Lý thuyết về sự thõa mãn công việc a.
Thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow (1943) Thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow (1943) là thuyết được ứng dụng. nhiều nhất trong nghiên cứu sự thỏa mãn công việc nói chung. rằng hành vi của con người thường bắt nguồn từ nhu cầu, nhu cầu trở thành động lực quan trọng tác động vào hành vi kích thích họ hành động. Mục đích hành động là nhằm thỏa mãn nhu cầu.
“Theo Ông nhu cầu của con người được chia làm năm cắp bậc, được sắp xếp theo thứ tự tăng dần theo mức độ và tầm quan trọng như : nhu cầu sinh lý (cơ bản), nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu tự trọng, tự hoàn thiện. 'Nhu cầu của con người thay đổi theo thứ tự tăng dần sau khi một nhu cầu nào đó được thỏa mãn thì nhu cầu bậc cao hơn kế tiếp sẽ xuất hiện. Dựa trên tháp nhu cầu cấp bậc của Maslow sẽ giúp cho nhà quản lý xác định được mức độ thỏa mãn nhân viên của mình trong công việc hiện đang ở mức nhu cầu nào, để đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu cá nhân của họ.1: Mô hình thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow 10 b. Thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959) Nghiên cứu của Herzberg (1959) phát hiện ra rằng thỏa mãn công việc bị tác động bởi hai nhân tố: nhân tố duy trì và nhân tố thúc đây.
Nhân tố duy trì gồm: lương và các chế độ, mối quan hệ với cấp trên, đồng nghiệp, chính sách công ty, sự giám sát của cấp trên, điều kiện làm việc, sự an toàn, vị trí công việc và sự đảm bảo của công việc.