Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu và phương pháp thực hiện nghiên cứu. Chương 2 này có mục đích trình bày những lý thuyết liên quan về sự thỏa mãn công việc và dự định nghỉ việc. Từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết.2 Thỏa mãn công việc và các yếu tố của nó 2.1 Định nghĩa Thỏa mãn công việc được định nghĩa là sự cảm nhận của mỗi cá nhân thích hoặc khồng thích công việc của họ (Spector, 1997). Người có mức độ thỏa mãn công việc cao sẽ có thái dộ tích cực với công việc và ngược lại (Robbins, 2003).
vấn đề thỏa mãn công việc không chỉ quan trọng đối với nhân viên mà còn đối với cả doanh nghiệp do năng suất làm việc, gắn kết tổ chức, thái độ đối với công việc, sự hài lòng đối với cuộc sổng, sức khỏe tình thần và thể chất của nhân viên đều tốt hơn khi họ hài lòng với công việc (Tan, 2009; Ahmad và cộng sự, 2010).2 Các yếu tố của thỏa mãn công việc Mức độ thỏa mãn công việc có thể được đánh giá một cách tổng quan (mỗi cá nhân hài lòng hay không với cồng việc một cách tổng quát) hoặc theo các khía cạnh công việc (mỗi cá nhân hài lòng hay không với những khía cạnh khác nhau của công việc) (Spector, 1997). Cả hai cách đánh giá đều phù hợp đế đo lường mức độ thỏa mãn của nhân viên trong công việc (Price, 1997). Tuy nhiên cách đánh giá theo những khía cạnh khác nhau của công việc sẽ khách quan và hợp lý hơn, giúp các nhà quản trị biết rõ hơn về những điểm mạnh, điểm yếu trong tố chức (DeConinck và Stilwell, 2002). Opara và cộng sự (2005) phân tích ảnh hướng cúa lương, đào tạo, sự phát triển nghề nghiệp, và giới tính đối với thỏa mãn công việc của 228 nhân viên CNTT của 8 công ty CNTT.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, một số nhân viên 7 không hài lòng với mức lương, nhưng lại hài lòng với công việc của họ, trong trường hợp này, sự thỏa mãn chung của công việc bị ảnh hưởng bởi cơ hội đào tạo và thăng tiến. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc đánh giá thỏa mãn công việc của nhân viên từ nhiều khía cạnh khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho ràng thỏa mãn công việc tăng lên do các đặc tính của công việc như thông tin phản hồi, tính chuyên nghiệp và quyền tự chủ tăng lên. Tuy nhiên, Dỉala and Nemani (2011) khi nghiên cứu về “Những yếu tố nào ảnh hưởng đến nhận thức của nhân viên CNTT về thỏa mãn công việc”, cho rằng tính tự chủ trong công việc, động lực làm việc, và cơ hội phát triển là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến thỏa mãn chung về công việc.
Ỏ lĩnh vực khác, Amiri và cộng sự (2010) xem xét ảnh hưởng của các yếu tố như điều kiện làm việc, quan hệ dồng nghiệp, lãnh đạo, sự thăng tiến, huấn luyện và các biến giám sát khác (giới tính, trình độ học vấn, độ tuổi, kinh nghiệm làm việc) đến thỏa mãn công việc. Kết quả cho thấy, quan hệ đồng nghiệp và lãnh đạo, và cơ hội thăng tiến có ảnh hưởng lớn nhất đến thỏa mãn chung về công việc, trong khi đó các biến giám sát có ảnh hưởng rất nhỏ. Tương tự, Wadhwa và cộng sự (2011) chia thỏa mãn công việc thành ba yeu tố: (1) yếu tố ve hành vi (lương và lãnh đạo), (2) yếu tố về tổ chức (cơ hội thăng tiến), (3) yếu tố về môi trường làm việc (áp lực công việc và điều kiện làm việc), và xem xét ảnh hưởng của ba yếu tổ này đến thỏa mãn chung của công việc. Kết quả, cả ba yếu tố đều có tác động mạnh đến thỏa mãn chung về công việc.
Ngoài ra, trong hoạt động quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp, một trong những chức năng chính yếu đó là đánh giá kết quả thực hiện công việc cùa nhân viên. Theo Trần (2011), đánh giá kết quả thực hiện công việc nhằm mục đích cung cấp thông tin phản hồi cho nhân viên, từ đó giúp nhân viên điều chinh, sửa 8 chữa các sai lầm nếu có trong quá trình làm việc; kích thích, động viên nhân viên có những ý tưởng sáng tạo, phát triển nhận thức về trách nhiệm, và thúc đẩy nỗ lực thực hiện công việc tốt hơn; và đó cũng là phương tiện truyền thông và giao tiếp, làm cơ sở cho những cuộc thảo luận giữa cấp trên và cấp dưới về vấn đề hên quan đến công việc. Thông qua sự tương tác và quá trình phản hồi hiệu quả, hai bên có thể hiểu nhau hơn và có quan hệ tốt đẹp hơn. Mahdieh (2013) xem xét ảnh hưởng của hệ thống đánh giá kết quả thực hiện công việc đối với thỏa mãn công việc thông qua khảo sát 101 nhân viên làm việc tại tổ chức phi lợi nhuận quốc tế ớ vùng Peshawar.
Từ kết quả phân tích tương quan và hồi qui, nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa hệ thống đánh giá kết quả thực hiện công việc và thỏa màn công việc. Patrick (2014) nghiên cứu mối quan hệ giữa đánh giá kết quả thực hiện công việc và thỏa mãn công việc với 12,000 mẫu từ German Socio-Economic Panel Study (SOEP), kết quả nghiên cứu cho thấy đánh giá kết quả công việc tác động mạnh tới thỏa mãn công việc. Vì vậy, tình hình đánh giá kết quả công việc nên được xem là một yếu tố của thỏa mãn công việc. Trong những nghiên cứu liên quan về thỏa mãn công việc, nhiều thang đo để đo lường thỏa mãn công việc đã được sử dụng trong nhiều thập kỉ qua, một trong những thang đo phổ biến trong số đó là Job Descriptive Index (JDI) của (Smith, Kendall, và Hulin, 1969).
Thang đo này bao gồm các yếu tố: (1) bản chất công việc, (2) cơ hội đào tạo và thăng tiến, (3) lãnh đạo, (4) đồng nghiệp, và (5) tiền lương. Mô hình JDI là một trong những mô hình phổ biến được sử dụng đế đo lường thỏa mãn công việc lấy ví dụ như (Bowling, Hendricks, và Wagner, 2008), (Cooper- Hakim và Viswesvaran, 2005) và đặc biệt (Trần, 2005) đã thực hiện kiểm định thang đo JDI nhằm nghiên cứu đo lường mức độ thỏa mãn công việc của nhân viên trong điều kiện của Việt Nam. Trong nghiên cứu của (Trần, 2005), ngoài 5 nhân tố của JDI, tác giả đã bổ sung nhân tố “phúc lợi và điều kiện làm việc” để phù hợp với tình hình Việt Nam. Tóm lại, trong phạm vi của nghiên cứu này, các yếu tố chính của thỏa mãn công việc sẽ bao gồm 6 yếu tố: (1) bản chất công việc, (2) lãnh đạo, (3) cơ hội đào 9 tạo và thăng tiến, (4) lương và phúc lợi, (5) quan hệ đồng nghiệp, và (6) tình hình đánh giá kết quả thực hiện công việc.
Trong đó, yếu tố tình hình đánh giá kết quá thực hiện công việc được xem là yếu tố khám phá trong nghiên cứu này. Khái niệm của các yếu tố này theo Trần (2011): 1. Bản chất cồng việc thể hiện những thách thức của công việc, cơ hội đế sứ dụng các năng lực cá nhân, và cảm nhận thú vị khi thực hiện công việc. Yếu tố lãnh đạo thể hiện các mối quan hệ giữa nhân viên và lãnh đạo cấp trên trực tiếp, sự hỗ trợ của cấp trên, phong cách lãnh đạo và khả năng của lãnh đạo thực hiện các chức năng quản trị trong tổ chức.
Cơ hội đào tạo và thăng tiến, thể hiện: cơ hội đào tạo, phát triển các năng lực cá nhân và cơ hội được thăng tiến trong tổ chức. Lương và phúc lợi, thể hiện: tính công bằng (bên trong và bên ngoài) trong trả lương và các chương trình phúc lợi như bảo hiếm, bừa ăn v. Quan hệ đong nghiệp, thể hiện: các hành vi và quan hệ vởì đồng nghiệp tại nơi làm việc, sự phối hợp và giúp đỡ nhau trong công việc với các đồng nghiệp. Tình hình đánh giá kết quả thực hiện công việc, thể hiện: tính công bằng, chính xác trong đánh giá, giúp nhân viên định hướng phát triến nghề nghiệp cá nhân để có thể gắn bó lâu dài với công ty.3 Dự định nghỉ việc Dự định nghỉ việc của nhân viên là ý định của một cá nhân mong muốn sẽ rời khỏi tổ chức hiên tại và tìm kiếm một công việc khác trong tương lai gần (Vandenberg và Nelson, 1999).
Người có ý định thực hiện một hành vi cụ thể là yếu tố quyết định trực tiếp của hành vi đó (Fishbein và Ajzen, 1975) và dự định nghi việc có liên quan đến tỉ lệ nghỉ việc thực tế (Firth, Mellor, Moore, và Loquet, 2004).4 Mối quan hệ giữa thỏa mẫn công việc và dự đỉnh nghỉ việc Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau cho thấy có mối quan hệ ngược chiều giữa các thành phần của thỏa mãn công việc, cũng như thỏa mãn chung về công việc đối với dự định nghỉ việc. Westlund (2007) thực hiện nghiên cứu với 496 lập trình viên tại Mỹ nhàm xem xét mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo, thỏa mãn công việc đoi với lập trình viên và dự định nghỉ việc. Nghiên cứu cho kết quả, thỏa mãn công việc có ảnh hưởng lớn và ngược chiều đối với dự định nghỉ việc. Tuy nhiên không có mối quan hệ tương tự giữa sự thỏa mãn đối với phong cách lãnh đạo và dự định nghỉ việc.
Westlund và Hannon (2008) xem xét những thành phần nào của thoa màn công việc có ảnh hưởng lớn đến dự định nghỉ việc của các lập trình viên tại Mỹ. Nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ giữa dự định nghỉ việc và 9 yếu tố của thỏa mãn công việc: (1) khen thưởng, (2) sự thăng tỉến, (3) lương, (4) lãnh đạo, (5) đồng nghiệp, (ố) phúc lợi, (7) bản chất công việc, (8) điều kiện làm việc, và (9) truyền thông, giao tiếp. Trong đó bản chất công việc có ảnh hưởng ngược chiều lớn nhất đến dự định nghỉ việc. Một nghiên cứu thực nghiệm của Shropshire and Kadlec (2012) được thực hiện gần đây liên quan đến nhân viên CNTT làm việc trong lình vực công tại Mỹ.
Nghiên cứu này cho thay sự thỏa mãn công việc, sự hỗ trợ trong tồ chức, sự hỗ trợ của lãnh dạo và phần thưởng có liên quan đến dự định nghỉ việc của nhân viên. Hoonakker và cộng sự (2004) giới thiệu một hình toàn diện về vấn đề nhả} việc đối với lĩnh vực CNTT. Trong mô hình này, những dặc tính về công việc và tố chức như sự thỏa mãn công việc, trạng thái tham gia vào hoạt động của tổ chức, và sự mệt mỏi về biểu hiện tình cảm có liên quan đến dự dinh nghỉ việc thông qua biến trung gian là chất lượng của cuộc sống.