Đặt vấn đề: Kinh tế Việt Nam đã và đang trên đường hội nhập sâu và rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Sự hội nhập đã tạo ra sự tác động mạnh tới tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng. Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, Luật Quy hoạch đô thị đã dược ban hành tạo khung pháp lý cho các công tác quản lý, chỉnh trang đô thị, phát triển nhà ở và thị trường bất động sản. Chất lượng và trình độ xây dựng được cải thiện đáng kể.
Đến nay các Doanh nghiệp xây dựng Việt Nam đã làm chủ công nghệ thiết kế, thi công các công trình nhà cao tầng, công trình nhịp lớn, công trình ngầm có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Sự phát triển của ngành xây dựng kéo theo sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp khác. Giải quyết thêm nhiều công việc cho nhiều lao động trong cả nước trong những năm gần đây. Theo số liệu sơ bộ năm 2013 của Tổng cục Thống kê (GSO), ngành xây dựng đã trực tiếp và gián tiếp tạo việc làm cho trên 3,4 triệu lao động (chiếm 5,2% lực lượng lao động cả nước); và đóng góp 5,4% vào GDP, đứng thứ 5 (sau ngành nông nghiệp, sản xuất, thương mại và khoáng sản) [1].
Theo Thông cáo báo chí ngày 09/05/2014 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), năng suất lao động (NSLĐ) của Việt Nam năm 2013 thuộc nhóm thấp nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương, thấp hơn Singapore 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và thấp hơn Hàn Quốc khoảng 10 lần. So với các nước có thu nhập trung bình trong khối ASEAN, NSLĐ của Malaysia gấp 5 lần NSLĐ của Việt Nam còn NSLĐ của Thái Lan gấp 2,5 lần NSLĐ của Việt Nam [2]. Cơ cấu lao động của ngành xây dựng có xu hướng tăng trong giai 2005 - 2013, từ mức 5,4% tổng cơ cấu lao động năm 2005 lên 6,2% trong năm 2013. Hiện tại, lượng nhân công trong ngành xây dựng đạt 3,2 triệu lao động, là ngành có lượng lao động cao thứ 4 cả nước [3].
Tuy nhiên, theo Hiệp hội Nhà thầu Việt Nam (VACC), khoảng 80% công nhân xây dựng hiện nay làm việc có tính thời vụ, chưa được đào tạo bài bản, thiếu chuyên môn và chưa đáp ứng được chưa được đào tạo bài bản, thiếu chuyên môn và chưa đáp ứng được những yêu cầu về tính chuyên nghiệp trên công trường. So với 2 các nước trong khu vực, năng suất lao động Việt Nam chỉ bằng một nửa mức trung bình của các nước Đông Nam Á. Còn khi so sánh với các ngành khác, năng xuất lao động của ngành Xây dựng chỉ đứng thứ 16, vì vậy thu nhập của nhân công trong ngành cũng ở mức thấp hơn so với nhiều ngành kinh tế khác và so với các nước trong khu vực [3]. Tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến công suất lao động thấp là vấn đề được đề cập đến trong nhiều cuộc hội thảo như: "Áp dụng các mô hình quản lý tăng năng suất lao động trong doanh nghiệp" do báo Tài Chính Doanh Nghiệp tổ chức ngày 24/06/2016 [4], "Năng suất lao động – giải pháp tăng trưởng" do Báo Lao Động tổ chức ngày 14/10/2015 [5].
Tại buổi tọa đàm "Năng suất lao động – giải pháp tăng trưởng" ông Cao Sĩ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, cho rằng năng suất lao động phụ thuộc vào 3 yếu tố: chính sách và môi trường phát triển; cơ sở hạ tầng, khả năng áp dụng khoa học kĩ thuật; và kỷ cương lao động mỗi doanh nghiệp. Ở một góc nhìn khác, ông Vũ Quang Thọ, Viện trưởng Viện Công nhân và Công đoàn thuộc Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, cho hay năng suất lao động thấp là do sự bất hợp lý trong cơ cấu kinh tế và sự phân bổ lực lượng lao động. Trong những năm qua, cơ cấu nền kinh tế Việt Nam duy trì ở tỉ lệ khá ổn định với 18-20% GDP thuộc về khu vực nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng đóng góp khoảng trên 38% và phần còn lại từ 42-44% do dịch vụ mang lại. Tuy nhiên, cơ cấu lao động không hợp lý khi tỷ trọng lao động ngành nông nghiệp (ngành đóng góp thấp nhất vào GDP) lại chiếm đến 46,8% tổng việc làm; 3 trong khi khu vực công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm tỷ trọng lao động lần lượt là 21,2% và 32%.
Nhiều chủ doanh nghiệp thường lấy lý do năng suất lao động thấp để kìm hãm việc tăng lương cho người lao động. Tuy nhiên, năng suất lao động không phụ thuộc hoàn toàn vào trình độ của người lao động mà còn do cơ cấu nền kinh tế, cơ sở hạ tầng và khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật của doanh nghiệp… Tỉnh Long An tuy giáp ranh với TP. Hồ Chí Minh nhưng là 1 tỉnh có mức độ công nghiệp còn thấp. Công nghiệp chỉ đóng góp khoảng 40% giá trị trong nền kinh tế chủ yếu ở một số huyện như Đức Hòa, Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước.
Các huyện vùng Đồng Tháp Mười sản xuất nông nghiệp mà lúa gạo chất lượng cao xuất khẩu là chủ yếu. [6] Trên địa bàn tỉnh Long An hiện nay, nhiều dự án xây dựng được triển khai nhằm xây dựng chương trình nông thôn mới, kiên cố hóa trường học, trụ sở làm việc …ở các huyện trên địa bàn tỉnh được các doanh nghiệp xây dựng quy mô vừa và nhỏ thực hiện. Tuy nhiên, chất lượng nhân công trong tỉnh còn nhiều hạn chế ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất lao động. Vì vậy, khảo sát đánh giá và tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của công nhân ngành xây dựng trên địa bàn là cần thiết.
Tính cấp thiết của đề tài: Về mặt lý luận: tác giả muốn khảo sát và tìm hiểu về ảnh hưởng của Động cơ làm việc công nhân xây dựng đến năng suất lao động của công nhân trên địa bàn tỉnh Long An. Về mặt thực tiễn: nghiên cứu giúp các nhà quản lý thi công xây dựng trên địa bàn nghiên cứu có thêm cách nhìn nhận toàn diện, thực tế hơn về động cơ làm việc của công nhân xây dựng. Từ đó, đưa ra các biện pháp quản lý, điều chỉnh phù hợp nhằm tránh phát sinh thêm chi phí, tăng năng suất, đạt được mục tiêu đề ra. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: Đề tài của luận văn được thực hiện khảo sát trên các đối tượng là công nhân xây dựng thực hiện các công trình sử dụng vốn Nhà nước.
Phạm vi nghiên cứu: Vùng thực hiện bài nghiên cứu được hạn chế ở 3 huyện thuộc tỉnh Long An (Thủ Thừa, Thạnh Hóa, Tân Thạnh) với những dự án 4 xây dựng sử dụng vốn Nhà nước như: Trường học; Trụ sở làm việc; Trạm y tế; Nhà phố; Đường giao thông. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu: - Áp dụng phương pháp định tính, phương pháp định lượng, phương pháp định tính kết hợp định lượng, phương pháp điều tra và các phương pháp toán học. - Với mục tiêu của đề tài, tác giả sẽ nghiên cứu và đưa ra những nội dung cần tìm hiểu trên một bảng khảo sát, sau đó sẽ liên hệ trao đổi trực tiếp với những đối tượng đã đặt ra, dự kiến thực hiện bảng câu hỏi trên 150 đối tượng khảo sát. - Các số liệu nghiên cứu và thu thập bằng bảng câu hỏi khảo sát sẽ được kiểm tra, kiểm định bằng các công cụ phân tích thống kê.
Số liệu hợp lệ sẽ được sử dụng phân tích để tìm ra nguyên nhân chính ảnh hưởng đấn tinh thần và động cơ làm việc của công nhân đến năng suất lao động bằng phân tích nhân tố. 5 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động: Năng suất lao động là yếu tố trung tâm chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau. Toàn bộ những nhân tố tác động đến đầu ra và đầu vào đều là những nhân tố tác động đến năng suất lao động.
Theo giáo trình giảng dạy của Trường Đại học kinh tế quốc dân nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động bao gồm: - Các nhân tố gắn với bản thân người lao động. - Các nhân tố gắn với tổ chức lao động. - Các yếu tố thuộc về môi trường lao động. Do tính chất đặc thù của ngành xây dựng luôn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố nên trong quá trình triển khai luôn phải đương đầu với nhiều rủi ro, khó khăn.
Vì vậy, để khai thác hết khả năng làm việc của lao động trong ngành xây dựng cũng có ý nghĩa rất lớn đến hiệu quả đầu tư. Qua phân tích các nguyên nhân ta có thể thấy các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động trong ngành xây dựng như: - Trang thiết bị, dụng cụ lao động. - Trình độ văn hoá. - Trình độ chuyên môn.
- Tình trạng sức khoẻ. - Thái độ lao động. - Cường độ lao động. - Nguồn nhân lực.
- Khoa học công nghệ. - Mức độ chuyên môn hóa thấp. - Quản lý và phân công lao động. - Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên.
- Sự gắn bó với doanh nghiệp. - Các nhân tố khác. - Trình độ văn hoá: là sự hiểu biết cơ bản của người lao động về tự nhiên và xã hội.Trình độ văn hoá tạo ra khả năng tư duy và sáng tạo cao. Người có trình độ 6 văn hóa sẽ có khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đồng thời trong quá trình làm việc họ không những vận dụng chính xác mà còn linh hoạt và sáng tạo các công cụ sản xuất để tạo ra hiệu quả làm việc cao nhất.
- Trình độ chuyên môn: là sự hiểu biết khả năng thực hành về chuyên môn nào đó ,có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc một chuyên môn nhất định. Sự hiểu biết về chuyên môn càng sâu, các kỹ năng, kỹ xảo nghề càng thành thạo bao nhiêu thì thời gian hao phí của lao động càng được rút ngắn từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động. - Tình trạng sức khoẻ: Trạng thái sức khoẻ có ảnh hưởng lớn tới năng suất lao động. Nếu người có tình trạng sức khoẻ không tốt sẽ dẫn đến mất tập trung trong quá trình lao động, làm cho độ chính xác của các thao tác trong công việc giảm dần, các sản phẩm sản xuất ra với chất lượng không cao, số lượng sản phẩm cũng giảm , thậm chí dẫn đến tai nạn lao động.
- Thái độ lao động: Thái độ lao động là tất cả những hành vi biểu hiện của người lao động trong quá trình tham gia hoạt động sản xuất và kinh doanh.