chương 1 Luật Doanh nghiệp 2020: - Là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh [13]. - Hiện nay các doanh nghiệp trên thị trường đa số đều thực hiện quá trình sản xuất và kinh doanh, cung cấp các dịch vụ thế mạnh để sinh lời. Những doanh nghiệp này được xem là một tổ chức kinh tế vị lợi. Bên cạnh đó cũng có những doanh nghiệp hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.
Phân loại doanh nghiệp Theo quy định tại Điều 131 Luật Doanh nghiệp 2020, Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: - Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. - Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa. - Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. - Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 của Luật này.
- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Luan van 2 - Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần, trái phiếu và các loại chứng khoán khác của công ty [13]. Theo quy định tại Điều 134 Luật Doanh nghiệp 2020, có các loại cổ phần như sau: - Cổ phần phổ thông; - Cổ phần ưu đãi. Cổ phần ưu đãi có các loại sau: o Cổ phần ưu đãi biểu quyết: Chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết o Cổ phần ưu đãi cổ tức o Cổ phần ưu đãi hoàn lại o Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định [13].
Người được quyền mua cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông quyết định. Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn bao gồm Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn chịu trách nhiệm về tài sản của công ty và các khoản nợ trong phạm vi số vốn điều lệ. Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn một thành viên là loại hình doanh nghiệp này do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ (gọi là chủ sở hữu).
Chủ sở hữu công ty sẽ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Theo Điều 46 Luật doanh nghiệp 2020, giống như các loại hình doanh nghiệp khác, Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó thành viên có thể là tổ chức, cá nhân. Số lượng thành viên không vượt quá năm mươi. Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh Luan van 3 nghiệp [13]. Công ty hợp danh có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung là thành viên hợp danh. Thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty theo quy định pháp luật. Trong công ty hợp danh còn có thành viên góp vốn.
Doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân làm chủ doanh nghiệp và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ được thành lập 1 doanh nghiệp tư nhân theo quy định pháp luật. Lao động Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu về đời sống của mình, là điều kiện tất yếu để tồn tại và phát triển của xã hội loài người [19; Tr1]. Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người [3; Tr.
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, lao động tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Để tạo ra điều kiện cho người lao động làm việc có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, việc chăm lo, cải thiện điều kiện làm việc, phòng chống tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, bảo vệ sức khỏe cho người lao động không chỉ là trách nhiệm của doanh nghiệp, của người sử dụng lao động mà còn là trách nhiệm của cơ quan quản lí Nhà nước các cấp, của các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội và của bản thân tập thể và cá nhân người lao động [19; Tr. Điều kiện làm việc 1. Khái niệm Trong quá trình lao động để tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần Luan van 4 cho xã hội, con người phải làm việc trong những điều kiện nhất định.
Chúng ta gọi đó là điều kiện làm việc. Điều kiện làm việc là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, kinh tế - xã hội, kỹ thuật được thể hiện bằng các công cụ lao động, phương tiện lao động, đối tượng lao động, quy trình công nghệ, ở trong một khoảng không gian nhất định và việc sắp xếp, bố trí, tác động qua lại giữa các yếu tố đó với con người trong quá trình lao động. Điều kiện làm việc xuất hiện cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội và khoa học kỹ thuật. Điều kiện làm việc phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên của từng nơi và mối quan hệ của con người trong xã hội.
Bên cạnh khái niệm này thì vẫn còn có nhiều tác giả có những cách diễn đạt khác nhau, nhưng đều thống nhất ở định nghĩa sau: - Điều kiện làm việc tại nơi làm việc là tập hợp các yếu tố của môi trường lao động (các yếu tố: tâm sinh lý lao động, vệ sinh môi trường, thẩm mỹ, điều kiện tâm lý xã hội và điều kiện sống) có tác động lên trạng thái chức năng của cơ thể con người, khả năng làm việc, thái độ lao động, sức khỏe, quá trình sản xuất sức lao động và hiệu quả của họ trong hiện tại cũng như lâu dài. - Điều kiện làm việc là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, xã hội, kinh tế được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động, quá trình công nghệ, môi trường lao động và sự sắp xếp, bố trí chúng trong không gian và thời gian, sự tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với người lao động tại chỗ làm việc, tạo nên một điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động. Tình trạng tâm sinh lý của người lao động trong khi lao động tại chỗ làm việc cũng được coi như một yếu tố gắn liền mới điều kiện làm việc [21]. Qua khái niệm về “điều kiện làm việc” chúng ta thấy rằng, điều kiện làm việc là khái niệm rộng là tổng thể các yếu tố: công cụ lao động, phương Luan van 5 tiện lao động, đối tượng lao động, quá trình công nghệ và môi trường lao động.
Các yếu tố để có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, vì thế trong quá trình nghiên cứu chúng ta cần có giải pháp kĩ thuật để cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động nhằm nâng cao sức khỏe cho họ. Như vậy các quá trình lao động khác nhau sẽ tạo nên môi trường lao động rất khác nhau, và do đó mức độ tác động của chúng đến người làm việc cũng sẽ khác nhau. Tuy nhiên, cùng một quá trình lao động như nhau, nhưng do được tổ chức hợp lý và tuân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, vệ sinh xây dựng, các tiêu chuẩn tổ chức nơi làm việc, hoặc thực hiện các giải pháp cải thiện. nên những tác động có hại của các yếu tố trên tới sức khoẻ của người lao động có thể hạn chế được rất nhiều.
Việc đánh giá, phân tích điều kiện làm việc cần phải tiến hành đồng thời trong mối quan hệ tác động qua lại của các yếu tố nói trên và sự ảnh hưởng, tác động của chúng đến người lao động như thế nào? Từ đó mới có thể có được những kết luận chính về điều kiện làm việc ở cơ sở đó và có các biện pháp phù hợp nhằm cải thiện điều kiện lao động, bảo vệ sức khoẻ người lao động. Cải thiện điều kiện làm việc 1. Khái niệm về cải thiện điều kiện làm việc Cải thiện điều kiện làm việc là làm thế nào để đưa các yếu tố của điều kiện làm việc vào trạng thái tốt nhất, tối ưu nhất để chúng không gây ảnh hưởng xấu đến người lao động và môi trường xung quanh. Ngược lại, chúng còn có tác động thúc đẩy củng cố sức khoẻ, nâng cao khả năng làm việc của người lao động.45] Cải thiện các điều kiện làm việc có một ý nghĩa rất quan trọng trong tổ chức lao động khoa học.
Điều kiện làm việc thuận lợi sẽ tạo tiền đề cho việc thực hiện có hiệu quả các quá trình lao động. Cải thiện điều kiện làm việc còn nâng cao hứng thú trong lao động; tạo điều kiện cho việc giáo dục tinh thần lao động cộng sản chủ nghĩa cho con người. Cải thiện điều kiện làm việc là Luan van 6 một nhân tố quan trọng để nâng cao năng suất lao động và bảo vệ sức khoẻ cho người lao động. Vai trò của cải thiện điều kiện làm việc Cải thiện điều kiện làm việc có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển của tổ chức, doanh nghiệp.
Cải thiện điều kiện làm việc là một trong những điều kiện kiên quyết để một doanh nghiệp tồn tại và đi lên cạnh tranh. Điều đó được thể hiện trên các mặt bao gồm kinh tế, xã hội, người lao động và doanh nghiệp. - Về mặt kinh tế: cải thiện điều kiện làm việc cho phép nâng cao năng suất lao động và tăng cường hiệu quả sản xuất do người lao động có sức khỏe, tâm lý ổn định để sử dụng tốt các máy móc nhằm làm giảm thời gian khấu hao hữu hình và vô hình.