Chương 1 đã trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu sau khi mô tả khái quát sự phát triển của công nghệ AI trên quy mô toàn cầu, giới thiệu những lợi ích và cả PAGE \* MERGEFORMAT 127 những bất lợi mà AI mang lại trong y học. Bên cạnh đó, chương một cũng giới thiệu về mục tiêu nghiên cứu của đề tài, đối tượng nghiên cứu hướng đến, phạm vi của đề tài, mô tả sơ bộ về phương pháp nghiên cứu của đề tài và cuối cùng là chỉ ra những khía cạnh còn khá hạn chế của bài nghiên cứu. Tiếp theo, với chương 2, các cơ sở lý thuyết của bài, bao gồm các khái niệm, lý thuyết liên quan, tổng quan các công trình nghiên cứu trước đó và nhóm đưa ra đề xuất mô hình nghiên cứu sau khi tham khảo và tìm hiểu lý thuyết liên quan tất cả sẽ được trình bày cụ thể trong chương này. PAGE \* MERGEFORMAT 127 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Tên đề tài ban đầu: Áp dụng AI trong y học ảnh hưởng như thế nào đến quyết định khám chữa bệnh của người dân tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khái niệm ý định hành vi và chấp nhận sử dụng công nghệ thông tin 2. Khái niệm về Ý định hành vi Ý định hành vi của (Warshaw and Davis, 1985)là một trong những mô hình nghiên cứu về hành vi tiêu dùng được phát triển sớm nhất và cũng là một trong những mô hình có ảnh hưởng lớn đến các nghiên cứu hành vi tiêu dùng hiện đại. Nó xác định rằng Việc dự đoán của một người về một hành vi cụ thể mà họ sẽ thực hiện được định nghĩa là Ý định hành vi.
Ý định hành vi của một người sẽ ảnh hưởng bởi hai yếu tố đó là thái độ và chuẩn đạo đức. Thái độ nghĩa là đề cập đến cảm nhận của người dùng về sản phẩm hoặc dịch vụ mà họ đang xem xét, và được hình thành bởi các yếu tố như trải nghiệm trước đây, quan điểm cá nhân và thông tin từ nguồn khác nhau. Chuẩn đạo đức đề cập đến những quan điểm của người tiêu dùng về đạo đức và các giá trị cá nhân liên quan đến hành vi tiêu dùng, như tình trạng môi trường hoặc là trách nhiệm xã hội. (Warshaw and Davis, 1985) nhận thấy rằng Ý định hành vi sử dụng hệ thống tương quan một đáng kể với việc sử dụng.
Bên cạnh đó, nó còn được xem là một yếu tố chính tác động quyết định hành vi của một cá nhân, trong đó ý định hành vi là khát vọng hay quyết tâm thực hiện một hành động cụ thể của cá nhân họ. Với các nhân tố như độ lực kiểm soát, chuẩn đạo đức, thái độ, nhận thức cá nhân về dịch vụ hoặc sản phẩm nó sẽ có tác động đến Ý định hành vi và do đó, nó sẽ tác động gián tiếp đến hành vi của cá nhân. F, 1987) cũng chỉ ra rằng thông qua Ý định hành vi nó sẽ có thể dự đoán đáng kể hành động của một cá nhân như thế nào. Nó bị tác động thông qua nhiều yếu tố, gồm có thái độ, chuẩn mực đạo đức và độ lực kiểm soát và nó cũng là một dạng dự đoán trước khi hành động xảy ra.
Chúng ảnh hưởng dồng thời một cách trực tiếp đến ý định hành vi của cá nhân và thông qua đó ảnh hưởng gián tiếp đến hành động của họ. Tóm lại, yếu tố Ý định hành vi là quan trọng trong việc dự đoán hành vi thực tế. Nói cách khác, nếu như mà một PAGE \* MERGEFORMAT 127 người có ý định thực hiện hành vi cụ thể, thì có khả năng là họ sẽ thực hiện hành vi đó cao hơn so với những người không có ý định tương tự. Khái niệm Chấp nhận sử dụng công nghệ thông tin Các nghiên cứu của (Kim & Kankanhalli, 2009), (Susan K.
Lippert and Miles Davis, 2006) khi giới thiệu và đưa ra các công nghệ mới đều nhấn mạnh rằng việc chấp nhận thay đổi cũng như việc sẽ dùng các công nghệ mới phụ thuộc vào sự chấp nhận của người dùng, việc này bắt đầu từ trong chính mỗi cá nhân. Bài nghiên cứu chỉ ra những cảm nhận về ứng dụng mới sẽ ảnh hưởng đến quyết định của người dùng liệu họ có chấp nhận sự thay đổi và tin dùng các công nghệ mới này hay không. Ý định sử dụng của họ sẽ thay đổi theo chiều hướng tích cực nếu việc sử dụng chúng mạng lại lợi ích trong việc cải thiện hiệu suất công việc, họ có xu hướng chấp nhận thay đổi và tin dùng công nghệ hơn. Tuy nhiên, nếu họ tin rằng công nghệ mới sẽ khiến cho hiệu suất công việc của họ giảm hoặc tạo ra các vấn đề khác, thì đa phần sẽ dẫn đến xu hướng không chấp nhận sự thay đổi và không sử dụng công nghệ mới.
(Achmad Nizar Hidayanto and Rika Kharlina Ekawati, 2010) đã kết luận rằng để đảm bảo thành công của việc triển khai công nghệ mới trong tổ chức, cần phải tạo ra sự chấp nhận và sự ủng hộ từ phía người dùng thông qua việc đưa ra những thông tin hữu ích và đào tạo về công nghệ mới, giúp họ hiểu được giá trị cũng như biết đượccông nghệ mới sẽ mang lại ích gì cho công việc của họ. Yếu tố quan trọng - Mức độ chấp nhận sẽ là một yếu tố ảnh hưởng đến việc triển khai và sử dụng công nghệ hiện đại. Việc triển khai và áp dụng công nghệ đó trong tổ chức có thể gặp nhiều khó khăn à thất bại nếu người dùng họ không chấp nhận sự áp dụng nàyv. Việc đánh giá và tăng cường mức độ chấp nhận của người dùng là rất quan trọng để được mức độ hiệu quả triển khai công nghệ mới như thế nào.
Lippert and Miles Davis, 2006) cho thấy mức độ chấp nhận của người dùng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xác định sự thành công của dự án triển khai công nghệ thông tin trong tổ chức PAGE \* MERGEFORMAT 127 2. Các lý thuyết liên quan 2. Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM) Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model - TAM) (Fred Davis et al, 1987) là một mô hình được Fred Davis phát triển vào năm 1986 và đưa ra công bố chính thức vào năm 1989 bởi Davis, Bagozzi và Warshaw. Mô hình giải thích sự chấp nhận và sử dụng công nghệ thông tin bằng cách tập trung vào hai yếu tố chính là độ dễ sử dụng và độ hữu ích.
Độ hữu ích là mức độ công nghệ giúp cải thiện hiệu quả của người sử dụng về mặt công việc, trong khi đó độ dễ sử dụng là mức độ mà công nghệ dễ dùng, thân thiện với người sử dụng. Mô hình TAM này đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu về hành vi sử dụng công nghệ và trở nên nổi trội trong lĩnh vực nghiên cứu chấp nhận công nghệ. Trong mô hình TAM, yếu tố Nhận thức dễ sử dụng và Nhận thức sự hữu ích là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến Ý định hành vi. Nhận thức sự hữu ích được định nghĩa là mức độ mà một cá nhân tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu suất công việc của họ, trong khi Nhận thức dễ sử dụng được định nghĩa là mức độ mà một cá nhân tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ không cần nỗ lực về thể chất và tinh thần.
Việc tăng cường Nhận thức dễ sử dụng và Nhận thức sự hữu ích có thể giúp tăng Ý định hành vi và giảm sự phản đối sử dụng công nghệ. 1: Mô hình chấp nhận công nghệ TAM 2. Thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) (Viswanath Venkatesh, Michael G. Davis and Fred D.
Davis, 2003) đã phát triển mô hình Chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất (UTAUT). PAGE \* MERGEFORMAT 127 “Được kết hợp bởi tám mô hình chấp nhận công nghệ và được thống nhất bởi (Viswanath Venkatesh, Michael G. Davis and Fred D. Davis, 2003) để xây dựng mô hình UTAUT, bao gồm Lý thuyết về hành động hợp lý (TRA) (Ajzen and Fishbein, 1975), Lý thuyết về Hành vi có kế hoạch (TPB) (Ajzen, 1991) .Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) (Fred Davis et al, 1987), Kết hợp-TAM- TPB (Taylor and Todd, 1995), Mô hình sử dụng PC (MPCU) (Ronald L.
Higgins and Jane M. Howell, 1991), Mô hình Động lực (MM) (Fred D. Warshaw, 1992) ,Lý thuyết Nhận thức Xã hội (SCT) (Bandura, 1986) và Lý thuyết Khuếch tán Đổi mới (IDT) (Roger, 1995). UTAUT là một mô hình hợp nhất được phát triển từ nhiều mô hình nghiên cứu sự chấp nhận và sử dụng công nghệ trước đó”.
Mô hình UTAUT đã đưa ra một cái nhìn chi tiết về các yếu tố tác động đến ý định và hành vi sử dụng công nghệ, các yếu tố này bao gồm các yếu tố nội tại của người dùng (như nỗ lực kỳ vọng, hiệu suất mong đợi) và các yếu tố bên ngoài (như điều kiện thuận lợi và ảnh hưởng xã hội). UTAUT đã được kiểm chứng và chứng minh là mô hình này mang lại hiệu quả hơn nhiều khi so sánh với các mô hình cạnh tranh khác về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ. Trong đó, thứ nhất, Nỗ lực kỳ vọng được định nghĩa là mức độ dễ dàng về việc liên quan đến sử dụng hệ thống; thứ hai, hiệu suất mong đợi được định nghĩa là mức độ mà người dùng tin rằng việc sử dụng hệ thống sẽ cải thiện hiệu suất, năng suất làm việc. Nó cũng là một yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến ý định sử dụng và hành vi sử dụng thực tế của người dùng.
Nó thường được xem là một chỉ số cho việc đánh giá sự thành công của các dự án triển khai hệ thống mới. “Ảnh hưởng xã hội được đề cập đến như là mức độ một cá nhân nhận thức được tầm quan trọng của việc bị tác động bởi niềm tin của những người xung quanh rằng cá nhân đó nên sử dụng hệ thống mới.” “Điều kiện thuận lợi được định nghĩa là mức độ mà một cá nhân có niềm tin rằng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của tổ chức đủ điều kiện để hỗ trợ cho hệ thống” (Viswanath Venkatesh, Michael G. Davis and Fred D. UTAUT sẽ cho thấy hướng nhìn tổng quát và sâu sắc về cách các yếu tố ảnh hưởng đến Ý định và Hành vi phát triển theo thời gian.
Thông qua việct hử nghiệm, thực nghiệm nhiều lần, mô hình UTAUT đã được chứng minh tính vượt trội hơn so PAGE \* MERGEFORMAT 127 với các mô hình cạnh tranh đang thịnh hành khác (Venkatesh và cộng sự, 2003; (Viswanath Venkatesh &Xiaojun Zhang, 2014). 2: Mô hình Chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) 2.