Tổng quan luận án

Sau chiến thắng chống quân Minh năm 1427, triều Lê sơ chủ trương kiến thiết nền văn trị độc lập, tự chủ cho quốc gia Đại Việt. Trong bối cảnh đó, các công trình mang tính minh trưng cho văn hiến dân tộc liên tiếp xuất hiện, tiêu biểu là sự ra đời của ba bộ sưu tập thơ chữ Hán đầu tiên trong lịch sử trung đại: Việt âm thi tập 越音詩集, Tinh tuyển chư gia luật thi 精選諸家律詩 và Trích diễm thi tập 摘艷詩集. Ba công trình này đánh dấu sự tổng kết nền thi học năm thế kỷ đầu thời kỳ độc lập, xác lập tư liệu nguồn và định hình phương thức biên tập cho các tuyển tập thơ ca giai đoạn sau.

Khoảng trống nghiên cứu lớn nhất được tác giả chỉ ra là: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận ba bộ thi tuyển từ góc độ thư mục học sơ lược, văn học sử đại cương, hoặc dùng làm nguồn khảo dị tác phẩm riêng lẻ. Hầu như chưa có công trình nào đi sâu khảo sát cấu trúc nội tại của từng bộ sách, phân tích phương thức tổ chức văn bản đa tầng và đặt ba bộ thi tuyển trong mối quan hệ vận động tương quan để làm sáng rõ tiến trình biên tập thi học Đại Việt thế kỷ XV.

Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu ba bộ thi tuyển từ phương diện văn bản học nhằm xác định các văn bản chuẩn xác phục vụ nghiên cứu.
  2. Nghiên cứu cấu trúc nội tại và cấu trúc tương quan giữa các văn bản nhằm xác định phương thức tổ chức của từng thi tập và mối tương quan giữa chúng, làm cơ sở phân nhóm các bộ thi tuyển chữ Hán thế kỷ XV.
  3. Nghiên cứu từng bộ thi tuyển cụ thể nhằm làm sáng rõ đặc trưng thi tuyển học của mỗi công trình; đồng thời đặt chúng trong mối liên hệ tương quan để làm sáng tỏ sự tiếp nối, vận động phát triển của nền thi học chữ Hán Đại Việt thế kỷ XV.
  • Đối tượng nghiên cứu: Ba bộ thi tuyển chữ Hán Việt Nam thế kỷ XV gồm Việt âm thi tập, Tinh tuyển chư gia luật thi và Trích diễm thi tập.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát ba bộ thi tuyển dưới góc độ thi tuyển học, tập trung vào cấu trúc nội tại, phương thức tổ chức văn bản và tiến trình biên tập thi tuyển chữ Hán thời Lê sơ.
  • Phạm vi tư liệu: Trọng tâm là bản in Việt âm thi tập (kí hiệu A.1925), hai văn bản Tinh tuyển chư gia luật thi (bản in A.2657 và bản chép tay A.574 lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm), bản chụp Trích diễm thi tập (kí hiệu R.2248 lưu trữ tại Thư viện Quốc gia, đối chiếu bản chép tay VHv.2573). Ngoài ra, luận án bao quát các dị bản khác như R.603, A.3038, R.1629, HN.445, HN.279, HN.54 cùng các thư tịch cổ liên quan.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tình hình nghiên cứu ba bộ thi tuyển thế kỷ XV được luận án tổng thuật qua 5 hướng tiếp cận chính:

  1. Hướng nghiên cứu thư mục học:

    • Thư tịch cổ truyền thống: Lê Quý Đôn trong Đại Việt thông sử (1749), Kiến văn tiểu lục (quyển 4, mục Thiên chương) và Lệ ngôn sách Toàn Việt thi lục đã ghi chép tên sách, soạn giả, quy mô số quyển và nhận xét về sự kế thừa mang tính hệ thống của ba bộ sách; Bùi Huy Bích trong bài Tiểu dẫn sách Hoàng Việt thi tuyển và Hoàng Việt văn tuyển; Phan Huy Chú trong mục Văn tịch chí sách Lịch triều hiến chương loại chí (1821) ghi chép quy mô, số tác giả và số bài thơ.
    • Thư mục hiện đại: Dương Thái Minh (1977, Bộ Thư mục Hán Nôm - Mục lục tác giả); Trần Văn Giáp với hai công trình Lược truyện các tác gia Việt Nam (1971) và Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (tập 2, 1990) đã phân tích văn bản học, miêu tả chi tiết dị bản, lực lượng biên soạn và thống kê mục lục; Trần Nghĩa và François Gros (1993, Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu).
  2. Hướng nghiên cứu văn bản học:

    • Nguyễn Huệ Chi trong phần khảo luận văn bản bộ Thơ văn Lý - Trần (tập 1, 1977) và bài viết năm 1972 đã khảo sát niên đại, soạn giả, quy mô thi phẩm thời Lý - Trần trong ba bộ tuyển tập.
    • Nguyễn Thanh Tùng công bố hàng loạt khảo sát văn bản: phát hiện bản chép tay Việt âm thi tập R.1629 (2004) và bản HN.445 (2015); khảo sát hiện trạng 2 văn bản Tinh tuyển chư gia luật thi A.574 và A.2657 (2005); nghiên cứu bài tựa Trích diễm thi tập đối chiếu với Gia Nghiệp đường tàng thư chí của Mậu Thuyên Tôn (2013).
    • Nguyễn Mạnh Sơn (2010) với khóa luận tốt nghiệp khảo sát dị văn và quá trình truyền bản của Việt âm thi tập.
    • Nguyễn Thị Oanh (2012, 2013) khảo sát chữ húy thời Lê sơ và các chú thích trong bản A.1925 để khẳng định bản in năm Bảo Thái 10 (1729) in lại từ bản in năm Diên Ninh 6 (1459).
  3. Hướng nghiên cứu ngữ văn học và thi học chữ Hán:

    • Các bộ văn học sử của Dương Quảng Hàm, Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương (1978) và mục từ của Nguyễn Huệ Chi trong Từ điển văn học.
    • Nghiên cứu bài tựa Trích diễm thi tập của Lã Nhâm Thìn (2013), Phạm Hải Linh (2013), Lại Văn Hùng (2007).
    • Nghiên cứu Việt âm thi tập của Hà Đăng Việt (2013), Phạm Văn Khoái (2013) giải minh phức thể danh xưng "Việt âm".
    • Nghiên cứu thi học: Vương Tiểu Thuẫn và Hà Thiên Niên (2002, bài viết trên Văn học bình luận; 2003, luận án tiến sĩ tại Đại học Dương Châu) phân tích tư tưởng thi luận thời tiền Mạc; Trần Nho Thìn (2012) phân tích quan niệm thi giáo Nho gia; các công trình của NCS Phạm Vân Dung (2012, 2015, 2016).
  4. Hướng nghiên cứu tổ chức thi tập, thi tuyển:

    • Hà Minh (2013) khảo sát phương pháp biên định qua bài Lệ ngôn sách Toàn Việt thi lục; Phạm Văn Khoái (2014) khảo sát quá trình biên tập từ Phan Phu Tiên, Chu Xa đến Nguyễn Tấn; Phạm Vân Dung (2016) khảo chứng tác giả bài Thướng tiến Việt âm thi tập biểu.
  5. Hướng nghiên cứu dịch thuật:

    • Các công trình của Phạm Vân Dung (2013) thống kê mức độ kế thừa thơ thời Trần trong các bộ tuyển tập đời sau; Nguyễn Thị Thanh Chung (2013) dịch chú thơ Hoàng Đức Lương.

Khoảng trống luận án giải quyết: Luận án là công trình đầu tiên khảo sát toàn diện phương thức tổ chức nội bộ của ba bộ thi tuyển theo 4 cấp độ cấu trúc; làm rõ tính chất phân nhóm (thi tuyển quốc gia mang tính tổng hợp đối sánh với các chuyên tập theo thể loại); phục dựng tiến trình biên tập thi tuyển chữ Hán thế kỷ XV gắn liền với ý thức tự thành nền thi học Đại Việt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các khái niệm và cơ sở lý thuyết thi học trung đại:

  • Khái niệm "Thi học" (詩學): Được khảo sát trực tiếp từ các văn bản thế kỷ XV (Tân san Việt âm thi tập tự của Phan Phu Tiên năm 1433, Trích diễm thi tập tự của Hoàng Đức Lương năm 1497) và thư tịch đời sau (Kiến văn tiểu lục, Vũ trung tùy bút). "Thi học" trung đại bao hàm: phép làm thơ (lập ý, luyện câu, niêm luật); quan niệm và chuẩn mực thẩm mỹ của thời đại; công tác sưu tập, biên tập, chỉnh lý di sản văn chương chữ Hán nhằm xây dựng căn bản học vấn và minh trưng quốc gia văn hiến.
  • Khái niệm "Thi tập" và "Thi tuyển": Phân biệt tên gọi của tập thơ cá nhân với các bộ hợp tuyển thơ nhiều tác giả qua nhiều thời đại; nhận diện các phức thể danh xưng phản ánh tiêu chí tuyển lựa.
  • Khung phân tích cấu trúc 4 cấp độ: Luận án xác lập mô hình phân tích cấu trúc nội bộ của thi tuyển gồm 4 tầng bậc bao hàm lẫn nhau: $$\text{Cấp thi tập/thi tuyển} \longrightarrow \text{Cấp quyển/tập} \longrightarrow \text{Cấp tác giả} \longrightarrow \text{Cấp thi phẩm}$$

Luận án sử dụng 5 phương pháp nghiên cứu:

  1. Phương pháp văn bản học: Giám định niên đại, khảo chứng văn tự, chữ kị húy, vết tích khắc in nhằm xác định độ tin cậy của các văn bản khảo sát.
  2. Phương pháp văn hiến học cổ điển: Ứng dụng mô hình chỉnh lý văn hiến (biện ngụy, văn bản học, tập dật, phân loại, mục lục, chú thích theo hệ thống của Vương Dư Quang) để phân tích các bộ thi tuyển.
  3. Phương pháp phân tích thành tố: Chia tách chỉnh thể thi tuyển thành các đơn vị thành tố theo 4 cấp độ, tìm mối quan hệ cấu trúc giữa các bộ phận với toàn thể.
  4. Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Khảo sát sâu các văn bản đại diện tiêu biểu (A.1925, A.2657, A.574, R.2248).
  5. Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức Hán Nôm học, Văn học, Sử học, Ngôn ngữ học, Văn tự học và Văn hóa học.

Nguồn dữ liệu chính là các bản khắc in và bản chép tay cổ lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện Quốc gia Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Tiêu chí Việt âm thi tập Tinh tuyển chư gia luật thi Trích diễm thi tập
Soạn giả / Đồng biên tập Phan Phu Tiên biên tập, Chu Xa tục biên, Nguyễn Tấn phê điểm Dương Đức Nhan biên thứ, Lương Như Hộc giám định/phê điểm Hoàng Đức Lương biên tập
Niên đại biên tập Khởi soạn 1433 (Thuận Thiên), khắc in 1459 (Diên Ninh 6) Khoảng nửa sau thế kỷ XV (sau 1463) 1497 (Hồng Đức 28 / Cảnh Thống)
Văn bản nghiên cứu chính Bản in A.1925 (trùng san 1729) Bản in A.2657 (q.4-5) và bản chép A.574 (q.1-2) Bản chụp R.2248 (đối chiếu VHv.2573)
Quy mô số quyển 6 quyển + 1 Phụ lục 5 quyển (khảo sát hiện tồn) 6 quyển (hiện tồn) / 15 quyển (thư mục ghi)
Số tác giả / bài thơ Mục lục: 112 tác giả, 617 bài; Thực tế: 115 tác giả, 630 bài 12 tác giả, 482 bài (theo hiện trạng 2 văn bản) 14 tác giả (theo bảng Tính thị hiện còn)
Định hướng tuyển chọn Tuyển tập quốc gia tổng hợp, đa thể loại Chuyên tập thơ luật thể (cận thể luật thi) Chuyên tập thơ tuyệt cú (ngũ ngôn, thất ngôn)

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và hướng triển khai đề tài luận án

Chương này tổng kết thành tựu của học giới trong và ngoài nước về ba bộ thi tuyển chữ Hán thế kỷ XV qua 5 phương diện: thư mục học, văn bản học, ngữ văn học và thi học chữ Hán, cấu tạo nội tại, và tình hình dịch thuật. Tác giả chỉ ra tính phân tán của các nghiên cứu trước đây và xác định hướng triển khai của luận án: tập trung khảo sát cấu trúc tổ chức văn bản theo 4 cấp độ, làm rõ đặc trưng từng bộ sách và phục dựng tiến trình biên tập thi tuyển chữ Hán Đại Việt thế kỷ XV.

Chương 2: Tình hình văn bản và phương thức tổ chức của Việt âm thi tập, Tinh tuyển chư gia luật thi, Trích diễm thi tập

Chương 2 thực hiện khảo luận văn bản học chi tiết và phân tích cấu trúc tổ chức của từng thi tuyển:

  • Văn bản Việt âm thi tập: Khảo sát 5 văn bản hiện tồn, xác định bản in A.1925 (năm Bảo Thái 10 - 1729) là bản in lại nguyên vẹn bản in năm Diên Ninh 6 (1459). Dấu hiệu xác thực gồm 4 chữ kiêng húy đời Lê sơ: chữ Trần 陳 (Cung Từ Thái hoàng Thái hậu Phạm Thị Ngọc Trần), chữ Long 龍 (vua Lê Thái Tông - Lê Nguyên Long), chữ Anh 英 (Tuyên Từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Anh), chữ Cơ 基 (vua Lê Nhân Tông - Bang Cơ). Cấu trúc văn bản A.1925 gồm: Dòng chữ "Sắc tứ san hành", bài tựa Phan Phu Tiên (1433), bài tựa Nguyễn Tấn (1459), Tân san Việt âm thi tập mục lục, bài biểu Chu Xa, bài Lục Ngọc ấn, chính văn 3 quyển đầu và phần Phụ di quyển 3.
  • Văn bản Tinh tuyển chư gia luật thi: Kết hợp bản in A.2657 (142 trang, gồm quyển 4 và quyển 5 với 4 tác giả thời Lê: Nguyễn Trãi, Nguyễn Tử Tấn, Nguyễn Mộng Tuân, Vũ Mộng Nguyên) và bản chép tay A.574 (101 trang, gồm quyển 1 và quyển 2 với 8 tác giả thời Trần và 4 tác giả thời Lê). Kết quả phục dựng cho thấy quy mô hiện tồn gồm 5 quyển, 12 tác giả và 482 bài thơ.
  • Văn bản Trích diễm thi tập: Khảo sát bản chụp R.2248 đối chiếu bản VHv.2573 (97 trang), cấu trúc gồm: Bảng tính thị các tác giả, Mục lục từ quyển 1 đến quyển 6, bài tựa của Hoàng Đức Lương (1497) và chính văn 6 quyển chép thơ tuyệt cú.
  • Phương thức tổ chức nội bộ:
    • Cấp thi tập: Phân định hệ thống tiền văn (tựa, biểu, lục ấn, mục lục, tính thị) và chính văn.
    • Cấp quyển: Sắp xếp theo trục thời gian triều đại (Trần $\rightarrow$ Nhuận Hồ $\rightarrow$ Quốc triều Lê sơ) và phân chia theo tầng lớp xã hội.
    • Cấp tác giả: Thể hiện rõ trật tự tôn quân quyền (đế vương xếp trước, ghi miếu hiệu, lăng hiệu; bề tôi và danh nho ghi danh tính kèm tiểu truyện ngắn; nhà sư xếp cuối).
    • Cấp thi phẩm: Gồm tên bài, khổ thơ, hệ thống chú thích và phê điểm. Ở Việt âm thi tập, thống kê được 209 chú thích thuộc 14 nhóm nội dung (khảo dị, âm đọc, nghĩa từ, điển cố, nhân vật sự kiện, đồ vật loài vật, địa danh, thể thơ, số lượng bài, vần, thuật ngữ, phép tạo chữ, chữ đã giải thích, dẫn nguồn sử liệu) và 30 lời phê điểm của Nguyễn Tấn (nhận xét từ ngữ, câu thơ, thể tài thiền gia, lời thơ khéo đẹp, nội dung khen chê).

Chương 3: Việt âm thi tập: Thi tuyển quốc gia, “sắc tứ san hành”

Chương 3 đi sâu làm sáng tỏ bản chất của Việt âm thi tập với tư cách một công trình thi tuyển mang tầm vóc quốc gia:

  • Tính chất sắc tứ san hành: Bộ sách được triều đình phê duyệt xuất bản chính thức, có sự tham gia của các quan chức viện Hàn lâm và Quốc sử viện (Phan Phu Tiên, Chu Xa, Nguyễn Tấn).
  • Cơ sở thi học tham chiếu: Phân tích sự kết hợp giữa thi học cổ điển Trung Hoa (Kinh Thi, thuyết "thi ngôn chí", "hưng quan quần oán") với thi học lịch đại (Đường, Tống) và đối tượng phản ánh trung tâm là truyền thống thi học Đại Việt.
  • Ý thức tự thành thi học Đại Việt: Thông qua tựa và biểu, các soạn giả khẳng định Đại Việt là quốc gia văn hiến, có nền thơ ca độc lập phát triển tương đương với lịch đại Trung Hoa.
  • Tiêu chí biên tập: Quán triệt tinh thần "bản quốc" (đề cao bản sắc, thành tựu của người Nam) kết hợp chặt chẽ với sự nghiêm cẩn về "thi luật" và chuẩn mực Nho giáo chính thống.

Chương 4: Tinh tuyển chư gia luật thi, Trích diễm thi tập và tiến trình biên tập thi tuyển chữ Hán Đại Việt thế kỷ XV

Chương 4 phân tích hai bộ thi tuyển ra đời sau trong sự đối sánh với Việt âm thi tập:

  • Tinh tuyển chư gia luật thi - Chuyên tập luật thi: Dương Đức Nhan và Lương Như Hộc chủ trương biên tuyển thuần nhất các tác phẩm cận thể luật thi (chủ yếu là thất ngôn bát cú) từ cuối đời Trần (Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trung Ngạn) đến Lê sơ. Sách phản ánh xu hướng chuyên biệt hóa thể loại, chú trọng kỹ thuật niêm luật và các chủ đề thế sự, vịnh sử, tự thuật, thù phụng ngoại giao.
  • Trích diễm thi tập - Chuyên tập tuyệt cú: Hoàng Đức Lương biên tập sách năm 1497 với định hướng tuyển chọn thể thơ tuyệt cú (ngũ ngôn tuyệt cú và thất ngôn tuyệt cú). Luận án phân tích sâu quan niệm thi học trong bài tựa của Hoàng Đức Lương (chỉ ra 4 nguyên nhân khiến thơ văn dân tộc thất truyền: chỉ thi nhân mới thấy cái hay; người có học bận rộn khoa cử; người quyền quý không để ý; lệnh cấm khắc ván in của triều đình); khảo sát số thơ Hoàng Đức Lương chọn lại từ Việt âm thi tập và phần thơ của chính ông.
  • Tiến trình biên tập thi tuyển thế kỷ XV: Luận án khái quát sự vận động từ mô hình thi tuyển quốc gia tổng hợp, đa thể loại (Việt âm thi tập) sang mô hình các chuyên tập theo thể loại (Tinh tuyển chư gia luật thi - luật thi; Trích diễm thi tập - tuyệt cú). Cả ba bộ sách tạo thành tiến trình biên tập liên tục, vận hành theo cơ chế "hai trong một" (kết hợp bảo tồn di sản văn hiến quá khứ với định hướng sáng tác đương thời), khẳng định sự tự thành và trưởng thành của nền thi học Đại Việt.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt lý luận và phương pháp:

    • Xác lập khung lý thuyết nghiên cứu thi tuyển học trung đại dựa trên mô hình phân tích cấu trúc 4 cấp độ (thi tuyển - quyển - tác giả - thi phẩm).
    • Làm rõ nội hàm khái niệm "thi học" trong bối cảnh văn hóa - ngôn ngữ Đại Việt thế kỷ XV, phân biệt tính chất của thi tuyển tổng hợp quốc gia với chuyên tập thể loại.
  2. Về mặt thực tiễn và văn bản học:

    • Giám định, xác lập giá trị văn bản học vững chắc cho bản in Việt âm thi tập A.1925 (khẳng định bản in 1729 giữ nguyên dạng bản in 1459 qua hệ thống chữ húy thời Lê sơ).
    • Khôi phục cấu trúc và quy mô hiện tồn của Tinh tuyển chư gia luật thi (5 quyển, 12 tác giả, 482 bài thơ) trên cơ sở kết hợp hai văn bản A.2657 và A.574.
    • Thống kê, phân loại và phân tích định lượng toàn bộ 209 chú thích và 30 lời phê điểm trong Việt âm thi tập, cung cấp bức tranh chi tiết về phương pháp chú giải, khảo chứng văn bản của học giới thời Lê sơ.
    • Minh chứng tính thống nhất và tiếp nối của tiến trình biên tập thi tuyển thế kỷ XV, làm sáng rõ vai trò của ba bộ thi tuyển trong việc kiến tạo ý thức văn hiến độc lập của quốc gia Đại Việt.
  3. Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

    • Đề xuất tiếp tục ứng dụng mô hình phân tích cấu trúc 4 cấp độ để khảo cứu các bộ thi tuyển chữ Hán giai đoạn sau (thế kỷ XVIII - XIX như Toàn Việt thi lục, Hoàng Việt thi tuyển, Minh Đô thi vựng).
    • Đề nghị xây dựng công trình phiên dịch, chú giải toàn diện ba bộ thi tuyển thế kỷ XV dựa trên các văn bản đã được giám định, phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu ngữ văn Hán Nôm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Cả ba bộ thi tuyển khảo sát hiện tồn đều ở dạng tàn khuyết (bản in Việt âm thi tập A.1925 chỉ còn 3 quyển đầu; Tinh tuyển chư gia luật thi mất phần đầu và cuối; Trích diễm thi tập văn bản chụp bị mờ ở một số trang). Điều này làm hạn chế khả năng thống kê trọn vẹn toàn bộ thi phẩm của thế kỷ XV. Tình hình dịch thuật hiện nay chưa có bản dịch hoàn chỉnh toàn bộ ba bộ sách để đối chiếu toàn diện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục truy tìm, phát hiện các dị bản tàn bản khác của ba bộ thi tuyển tại các thư viện, dòng họ trong và ngoài nước.
    • Tổ chức biên dịch, hiệu khảo toàn bộ các bài thơ chữ Hán và hệ thống chú giải, phê điểm trong ba bộ thi tuyển.
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các bộ hợp tuyển thơ văn thời Mạc, Lê Trung hưng và triều Nguyễn để dựng lại toàn bộ lịch sử thi tuyển học Hán văn Việt Nam thời trung đại.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Hán Nôm, Văn học Việt Nam trung đại, Thư mục học và Văn bản học cổ điển.
    • Các nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng, lịch sử văn hóa Đại Việt thời Lê sơ.
    • Cơ quan quản lý, bảo tồn di sản Hán Nôm tại các viện nghiên cứu và thư viện quốc gia.
  • Phần nội dung đáng tham khảo:
    • Phương pháp phân tích văn bản học và khảo chứng chữ kị húy đời Lê sơ ở Chương 2.
    • Bảng thống kê, phân loại 14 nhóm chú thích và 30 lời phê điểm của Nguyễn Tấn trong Việt âm thi tập.
    • Khung phân tích cấu trúc 4 cấp độ của thi tuyển học trung đại.
    • Khảo luận về tư tưởng thi học và ý thức văn hiến qua các bài tựa, biểu của Phan Phu Tiên, Chu Xa, Lý Tử Tấn, Hoàng Đức Lương.

Câu hỏi thường gặp

1. Căn cứ văn bản học nào khẳng định bản in Việt âm thi tập kí hiệu A.1925 là bản in lại từ bản in năm Diên Ninh 6 (1459)? Luận án chỉ ra các căn cứ xác thực gồm: sự xuất hiện của chữ "ấn bản" trong cước chú; các chỗ khuyết chữ do ván in năm 1459 bị rách; và hệ thống 4 chữ kiêng húy đời Lê sơ: chữ Trần 陳 (Thái hoàng Thái hậu Phạm Thị Ngọc Trần), chữ Long 龍 (vua Lê Thái Tông), chữ Anh 英 (Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Anh) và chữ Cơ 基 (vua Lê Nhân Tông).

2. Bốn cấp độ trong cấu trúc nội bộ của thi tuyển chữ Hán được luận án xác lập là gì? Cấu trúc nội bộ được phân tích qua 4 tầng bậc bao hàm nhau:

  • Cấp thi tập / thi tuyển (tổng thể hệ thống tiền văn, chính văn, phụ lục);
  • Cấp quyển / tập (phân chia theo triều đại, tầng lớp tác giả);
  • Cấp tác giả (danh xưng, tiểu truyện, trật tự tôn quân);
  • Cấp thi phẩm (nhan đề, văn bản thơ, chú thích, phê điểm).

3. Hệ thống cước chú và phê điểm trong văn bản Việt âm thi tập A.1925 gồm những nội dung gì? Văn bản A.1925 lưu giữ 209 chú thích thuộc 14 nhóm (khảo dị, âm đọc, nghĩa từ, điển cố, nhân vật, sự kiện, địa danh, thể thơ, vần, thuật ngữ, cách tạo chữ...) và 30 lời phê điểm của Nguyễn Tấn (nhận xét từ ngữ, câu chữ, phong cách thiền gia, nghệ thuật biểu đạt, nội dung tư tưởng khen chê).

4. Quy mô hiện tồn của Tinh tuyển chư gia luật thi được khôi phục như thế nào? Trên cơ sở đối chiếu bản in A.2657 (gồm quyển 4 và quyển 5) với bản chép tay A.574 (gồm quyển 1 và quyển 2), luận án khôi phục quy mô hiện tồn của bộ sách gồm ít nhất 5 quyển, tuyển chọn 482 bài thơ của 12 tác giả từ cuối thời Trần đến thời Lê sơ.

5. Điểm khác biệt căn bản về định hướng tuyển chọn thể loại giữa Tinh tuyển chư gia luật thi và Trích diễm thi tập là gì? Tinh tuyển chư gia luật thi định hướng chuyên tuyển các bài thơ luật thể (cận thể luật thi thất ngôn bát cú), trong khi Trích diễm thi tập của Hoàng Đức Lương chuyên tuyển chọn các bài thơ theo thể tuyệt cú (ngũ ngôn tuyệt cú và thất ngôn tuyệt cú).

Kết luận

Luận án Nghiên cứu các bộ thi tuyển Hán văn Việt Nam thế kỷ XV của NCS Phạm Vân Dung đã khảo sát có hệ thống ba bộ thi tuyển chữ Hán đầu tiên của nước nhà (Việt âm thi tập, Tinh tuyển chư gia luật thi, Trích diễm thi tập) từ góc độ văn bản học và thi tuyển học. Bằng việc xác lập mô hình phân tích cấu trúc 4 cấp độ, luận án đã làm sáng tỏ phương thức tổ chức văn bản, phân định ranh giới giữa thi tuyển quốc gia tổng hợp và các chuyên tập thể loại. Công trình chứng minh quá trình biên tập liên tục của ba bộ sách chính là sự hiện thực hóa ý thức tự thành nền thi học Đại Việt, tạo lập căn bản cho học vấn và khẳng định nền văn hiến độc lập của quốc gia thời Lê sơ.