CHƯƠNG 1 Tinh thần là một yếu tố của sức khỏe con người. Khi đề cập đến sức khoẻ thì không phải lúc nào cũng chỉ nói đến khía cạnh thể chất, mà còn là yếu tố tinh thần, xã hội. Xã hội Việt Nam vẫn còn mang nặng tư tưởng phong kiến trọng nam khinh nữ. Chính sự định kiến giới, cụ thể là phân biệt giới trong tiền lương có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tinh thần của người lao động, nhất là với lao động nữ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TIỀN LƯƠNG Chương 2 trình bày lý thuyết nền tảng cho khung phân tích của luận văn. Làm rõ các khái niệm cơ bản về giới, tiền lương, bình đẳng giới, bình đẳng giới trong tiền lương. Trình bày những ảnh hưởng của bất bình đẳng giới trong tiền lương cũng như lược khảo các nghiên cứu liên quan nhằm rút ra các yếu tố chính có ảnh hưởng đến mức lương của người lao động ở Việt Nam.1 Các khái niệm cơ bản 2.1 Giới Theo Điều 5, Luật bình đẳng giới (2006) thì: Giới là: “chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”. Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau.
Còn giới tính là: “chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ”. Giới được hình thành trong quá trình phát triển nhân cách và là kết quả của một quá trình học hỏi thông qua sự tương tác của cá nhân với môi trường văn hóa, xã hội như gia đình, nhà trường, nơi làm việc. Giới có đặc trưng cơ bản (Nguyễn Thị Nguyệt, 2006): Tính do dạy và học mà có: đứa trẻ phải học để làm con trai hoặc con gái, được dạy dỗ để trở thành nữ giới hay nam giới theo quan niệm, khuôn mẫu của xã hội. Ví dụ, xã hội quy định đặc điểm, vị trí, vai trò và trách nhiệm quyền lợi khác nhau cho phụ nữ và nam giới, chẳng hạn: phụ nữ được cho là phải dịu dàng, biết hy sinh, biết làm việc nhà, biết chăm sóc con cái.
Còn nam giới được cho là phải mạnh mẽ, là trụ cột kinh tế, có nhiều quan hệ xã hội. Tính đa dạng: Giới thể hiện các đặc trưng của những quan hệ xã hội giữa nữ giới và nam giới nên rất đa dạng. Địa vị của nữ giới ở Việt Nam khác xa với địa vị của nước khác châu Mỹ, Châu Âu; địa vị của nữ giới ở nông thôn cũng không hoàn toàn giống với nữ giới sống ở thành thị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Tính luôn biến đổi: Khác với giới tính là các đặc điểm sinh học của nam và nữ đã có từ khi mới sinh ra, giới được hình thành trong quá trình phát triển nhân cách và là kết quả của một quá trình học hỏi thông qua sự tương tác của cá nhân với môi trường văn hóa, xã hội (gia đình, nhà trường, nơi làm việc, phương tiện thông tin đại chúng).
Đây là những đặc điểm không bất biến mà có thể đổi chỗ cho nhau và thay đổi theo sự biến đổi của điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, tập quán. Tính có thể thay đổi được: Cũng vì các quy định về giới do xã hội tạo ra nên cùng với sự tiến bộ nhận thức của xã hội thì các quy định về giới cũng thay đổi theo, chẳng hạn như địa vị xã hội của người phụ nữ hiện nay khác hoàn toàn so với thời phong kiến, phụ nữ có thể làm tổng thống, nam giới có thể làm người nuôi dạy trẻ.2 Bình đẳng giới Là việc “nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó” (Điều 5, Luật bình đẳng giới, 2006). Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới. Nam giới và phụ nữ cùng có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình, có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực của xã hội trong quá trình phát triển, được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống một cách bình đẳng, được hưởng thành quả một cách bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội (Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam, 2004).
Bình đẳng giới không phải là chỉ đấu tranh quyền lợi cho phụ nữ mà là đấu tranh cho sự bất bình đẳng của cả hai giới. Nhưng ở Việt Nam hiện nay, nhìn chung sự bất bình đẳng xảy ra đối với phụ nữ là chủ yếu nên khi đề cập đến bình đẳng giới, sẽ thường nói đến việc đòi quyền lợi cho phụ nữ. Trong gia đình, bình đẳng giới là các thành viên có sự bình đẳng với nhau. Cụ thể là mọi công việc trong gia đình đều được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 các thanh viên, trước hết là vợ và chồng cùng nhau chia sẻ và cùng nhau hưởng thụ thành quả từ những công việc đó mang lại.
Theo khái niệm trên thì bình đẳng giới không có nghĩa là sự hoán đổi vai trò, vị trí của nam và nữ từ thái cực này sang thái cực khác. Chính khái niệm này cũng không tuyệt đối hoá bằng con số hay tỷ lệ ngang bằng nhau mà là sự khác biệt về giới tính trong các vai trò sản xuất, tái sản xuất, vai trò chính trị và cộng đồng, nhất là sự chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc các thành viên gia đình nhằm tạo điều kiện và cơ hội để cho nam, nữ phát triển toàn diện về mọi mặt. Hơn nữa, khái niệm này cũng đề cập đến việc tạo điều kiện và cơ hội cho phụ nữ được bù đắp những khoảng trống do gánh vác phần lớn nội trợ gia đình cũng như việc mang thai, sinh con.3 Bất bình đẳng giới Theo Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ - CEDAW (1979). Đã định nghĩa việc phân biệt đối xử giới: Bất cứ sự phân biệt, sự loại trừ hoặc hạn chế nào được thực hiện trên cơ sở giới tính mà có tác dụng hoặc nhằm mục đích làm suy giảm hoặc vô hiệu hoá sự công nhận, quyền thụ hưởng hoặc quyền sử dụng của phụ nữ, bất chấp tình trạng hôn nhân của họ, trên cơ sở bình quyền nam nữ, nhân quyền và các quyền tự do cơ bản khác trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, dân sự hoặc bất kỳ lĩnh vực nào khác.
Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con ngườicủa Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc năm 1948 định nghĩa rằng: bất cứ sự phân biệt nào hình thành trên cơ sở giới tính, chủng tộc, màu da, tôn giáo, khuynh hướng chính trị, nguồn gốc xã hội mà có ảnh hưởng và làm tổn hại đến việc tiếp cận các cơ hội hay sự đối xử trong công việc và nghề nghiệp thì được coi là có sự bất bình đẳng (Tổng cục dân số kế hoạch hóa gia đình, 2013). Các dạng tồn tại của bất bình đẳng giới: Gánh nặng công việc, sự phân biệt đối xử, bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, những định kiến và bạo lực trên cơ sở giới tính.Từ đó có thể thấy bất bình đẳng giới được hiểu là sự phân biệt trên cơ sở giới tính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 mà sự phân biệt này ảnh hưởng đến sự tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực của xã hội và quá trình phát triển của con người. Xét riêng trong lĩnh vực lao động thì sự bất bình đẳng giới thể hiện ở sự phân biệt trong việc tiếp cận các cơ hội, sự phân biệt đối xử trong công việc và nghề nghiệp cũng như sự phân biệt trong việc thừa hưởng các thành quả lao động giữa lao động nam và lao động nữ.2 Các lý thuyết liên quan về tiền lương và bất bình đẳng giới về tiền lương 2.1 Lý thuyết tiền lương Lý thuyết tiền lương được các nhà kinh tế thuộc trường phái Kinh tế cổ điển đề cập vào cuối thế kỷ 18. William Petty, David Ricardo, Adam Smith là những tác giả nổi bật của trường phái này, là những người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho nguyên lý giá trị lao động (Bùi Thái Quyên, 2012):William Petty cho rằng người lao động được trả lương cao hơn sẽ lười lao động hơn nên tiền lương của công nhân không thể vượt quá những tư liệu sinh hoạt cần thiết.David Ricardo coi lao động là hàng hóa, cho rằng tiền lương là giá cả thị trường của lao động.
Tiền lương được xác định trên cơ sở giá cả tự nhiên của hàng hóa lao động. Giá cả tự nhiên của lao động là giá trị những tư liệu sinh hoạt nuôi sống người công nhân và gia đình họ.Adam Smith xem tiền lương là một phần thu nhập của công nhân làm thuê, là một phần của sản phẩm lao động. Ông ủng hộ việc trả lương cao. Lịch sử về lý thuyết tiền lương có thể được chia thành ba giai đoạn: (1) đến năm 1870 lý thuyết về Quỹ lương thống trị; (2) giai đoạn 1870-1914: lý thuyết về năng suất biên thống trị và (3) giai đoạn 1914- nay: là các lý thuyết về tiền lương theo kinh tế học (John.
Theo Lý Thuyết tiền lương hiệu quả của Akerlof (1982): Người sử dụng lao động nên trả lương cao hơn mức cân bằng vì góp phần làm tăng sức khỏe người lao động, từ đó làm tăng hiệu quả làm việc của công nhân. Khi người lao động nhận được thù lao tốt hơn, ăn thức ăn nhiều chất dinh dưỡng hơn, họ sẽ khỏe mạnh hơn và có năng suất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 lao động cao hơn. Lý luận này rất thích hợp đối với các nước đang phát triển, vì tại đó, người lao động thường không được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng. Tiền lương được các nhà kinh tế học tư sản giải thích là giá cả của lao động hoặc giá cả của dịch vụ hay sản phẩm lao động.
Còn theo Karl Marx, tiền lương chính là giả cả của hàng hóa sức lao động. Dưới chủ nghĩa tư bản, người công nhân bán sức lao động của mình cho nhà tư bản và nhận được tiền lương với tư cách là vật ngang giá (Marx và Angel toàn tập, 1980).