Luận Văn Thạc Sĩ Nghiên Cứu Bình Đẳng Giới Về Tiền Lương Của Người Lao Động Ở Việt Nam

Luận văn thạc sĩ UEH nghiên cứu bình đẳng giới về tiền lương của người lao động ở Việt Nam, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp.

Chuyên ngành

Kinh Tế Phát Triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

77
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.1.1. Mục tiêu tổng quát

1.1.2. Mục tiêu cụ thể

1.2. Đối tượng, phạm vi và câu hỏi nghiên cứu

1.2.1. Đối tượng nghiên cứu

1.2.2. Phạm vi nghiên cứu

1.2.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.3. Phương pháp nghiên cứu

1.4. Ý nghĩa của đề tài

1.5. Bố cục nội dung

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TIỀN LƯƠNG

2.1. Các khái niệm cơ bản

2.1.1. Giới

2.1.2. Bình đẳng giới

2.1.3. Bất bình đẳng giới

2.2. Các lý thuyết liên quan về tiền lương và bất bình đẳng giới về tiền lương

2.2.1. Lý thuyết tiền lương

2.2.2. Khái niệm tiền lương

2.2.3. Bất bình đẳng giới trong tiền lương

2.2.4. Ảnh hưởng của bất bình đẳng giới trong tiền lương đến phát triển kinh tế

2.2.5. Các công trình nghiên cứu trước có liên quan

2.2.6. Các yếu tố ảnh hưởng tới bất bình đẳng giới trong tiền lương

2.2.6.1. Các quan niệm và tư tưởng truyền thống
2.2.6.2. Các yếu tố kinh tế
2.2.6.2.1. Nhóm yếu tố đặc điểm người lao động
2.2.6.2.2. Nhóm yếu tố giáo dục - đào tạo
2.2.6.2.3. Nhóm yếu tố lao động, việc làm
2.2.6.2.4. Nhóm yếu tố địa lý: vùng, thành thị/nông thôn
2.2.6.2.5. Môi trường chính sách liên quan đến thu nhập và vấn đề giới
2.2.6.2.6. Nhóm các yếu tố khác

2.2.7. Mô hình nghiên cứu thực nghiệm

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Mô tả dữ liệu nghiên cứu

3.2. Quy trình trích lọc số liệu

3.2.1. Giới thiệu bộ dữ liệu

3.2.2. Phần mềm sử dụng

3.2.3. Mô tả các biến trong dữ liệu

3.2.4. Trích lọc số liệu

3.2.4.1. Dữ liệu thiếu hoặc bị lỗi
3.2.4.2. Lọc số liệu

3.2.5. Cách thức ước lượng

3.3. Cách tính và quy đổi một số biến trong mô hình

3.3.1. Tiền lương bình quân giờ

3.3.2. Biến kinh nghiệm

3.3.3. Quy đổi một số biến định tính

3.3.3.1. Biến tình trạng hôn nhân
3.3.3.2. Biến bằng cấp cao nhất đạt được
3.3.3.3. Biến bằng dạy nghề
3.3.3.4. Biến chuyên môn kỹ thuật
3.3.3.5. Biến ngành kinh tế
3.3.3.6. Biến khu vực kinh tế
3.3.3.7. Biến thành thị/nông thôn
3.3.3.8. Biến thành phố lớn

3.4. Phương pháp phân tích và đánh giá về bất bình đẳng giới trong tiền lương

3.4.1. Hàm thu nhập Mincer

3.4.2. Mô hình thực nghiệm và biến số quan sát

3.4.2.1. Mô hình thực nghiệm
3.4.2.2. Mô hình tương tác
3.4.2.3. Biến phụ thuộc
3.4.2.4. Biến độc lập, ý nghĩa và dấu kỳ vọng

4. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Mô tả thực trạng về bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam

4.1.1. Giáo dục - đào tạo

4.1.2. Lao động và việc làm

4.2. Kết quả hàm hồi quy tiền lương Mincer

4.3. Kết quả hàm hồi quy mô hình tương tác

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Định hướng, chủ trương của Chính phủ trong bình đẳng giới về tiền lương

5.2. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Bình Đẳng Giới Trong Tiền Lương Tại Việt Nam

Nghiên cứu về bình đẳng giới trong tiền lương tại Việt Nam là một vấn đề quan trọng, phản ánh sự phân biệt trong thu nhập giữa lao động nam và lao động nữ. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động mà còn tác động đến sự phát triển kinh tế và xã hội. Việc hiểu rõ về bình đẳng giới trong tiền lương giúp nhận diện các vấn đề và thách thức mà phụ nữ đang phải đối mặt trong thị trường lao động.

1.1. Định Nghĩa Bình Đẳng Giới Trong Tiền Lương

Bình đẳng giới trong tiền lương được hiểu là sự công bằng trong việc trả lương cho lao động nam và nữ, đảm bảo rằng cả hai giới đều nhận được mức lương tương xứng với năng lực và đóng góp của họ. Điều này không chỉ là một yêu cầu về quyền con người mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Bình Đẳng Giới

Nghiên cứu về bình đẳng giới trong tiền lương không chỉ giúp nâng cao nhận thức về vấn đề này mà còn cung cấp cơ sở cho các chính sách nhằm giảm thiểu sự phân biệt giới tính trong thu nhập. Điều này có thể dẫn đến việc cải thiện chất lượng cuộc sống cho phụ nữ và gia đình họ, đồng thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế của quốc gia.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Bình Đẳng Giới Về Tiền Lương

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong việc thúc đẩy bình đẳng giới, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều thách thức trong việc đảm bảo sự công bằng trong tiền lương. Các yếu tố như định kiến xã hội, sự phân biệt trong tuyển dụng và thăng tiến, cũng như các chính sách chưa đủ mạnh để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ là những vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Định Kiến Giới Trong Thị Trường Lao Động

Định kiến giới vẫn còn tồn tại mạnh mẽ trong xã hội Việt Nam, dẫn đến việc phụ nữ thường bị đánh giá thấp hơn trong công việc và nhận được mức lương thấp hơn so với nam giới. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến thu nhập mà còn tác động đến tâm lý và động lực làm việc của họ.

2.2. Sự Phân Biệt Trong Tuyển Dụng Và Thăng Tiến

Phụ nữ thường gặp khó khăn trong việc thăng tiến trong sự nghiệp do các rào cản vô hình như sự thiên lệch trong đánh giá năng lực. Điều này dẫn đến việc họ không được trả lương công bằng so với nam giới, mặc dù có cùng trình độ và kinh nghiệm.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Bình Đẳng Giới Trong Tiền Lương

Để nghiên cứu về bình đẳng giới trong tiền lương, cần áp dụng các phương pháp định lượng và định tính. Việc thu thập dữ liệu từ các cuộc khảo sát và phân tích số liệu sẽ giúp xác định mức độ chênh lệch trong tiền lương giữa nam và nữ, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến sự chênh lệch này.

3.1. Phương Pháp Định Lượng

Phương pháp định lượng sử dụng các mô hình hồi quy để phân tích dữ liệu về tiền lương, từ đó xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự khác biệt trong tiền lương giữa hai giới. Việc này giúp đưa ra các kết luận chính xác và có cơ sở khoa học.

3.2. Phương Pháp Định Tính

Phương pháp định tính có thể bao gồm phỏng vấn sâu và khảo sát ý kiến của người lao động về trải nghiệm của họ trong thị trường lao động. Điều này giúp hiểu rõ hơn về các rào cản và thách thức mà phụ nữ phải đối mặt trong việc đạt được bình đẳng giới trong tiền lương.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Bình Đẳng Giới Trong Tiền Lương

Kết quả từ nghiên cứu về bình đẳng giới trong tiền lương có thể được ứng dụng trong việc xây dựng các chính sách và chương trình nhằm thúc đẩy sự công bằng trong thu nhập. Các tổ chức và doanh nghiệp có thể sử dụng thông tin này để cải thiện chính sách tuyển dụng và đãi ngộ, từ đó tạo ra môi trường làm việc công bằng hơn.

4.1. Chính Sách Cải Cách Tiền Lương

Các chính sách cải cách tiền lương cần được thiết kế để đảm bảo rằng phụ nữ nhận được mức lương công bằng với nam giới. Điều này có thể bao gồm việc áp dụng các tiêu chuẩn lương tối thiểu và các quy định về minh bạch trong tiền lương.

4.2. Đào Tạo Và Nâng Cao Nhận Thức

Đào tạo và nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong tiền lương cho cả người lao động và nhà quản lý là rất quan trọng. Điều này giúp tạo ra một môi trường làm việc công bằng và khuyến khích sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực khác nhau.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Bình Đẳng Giới Trong Tiền Lương Tại Việt Nam

Nghiên cứu về bình đẳng giới trong tiền lương tại Việt Nam cho thấy rằng mặc dù đã có những tiến bộ, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải giải quyết. Việc đảm bảo sự công bằng trong tiền lương không chỉ là một yêu cầu về quyền con người mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

5.1. Tương Lai Của Bình Đẳng Giới Trong Tiền Lương

Tương lai của bình đẳng giới trong tiền lương phụ thuộc vào sự nỗ lực của cả xã hội trong việc thay đổi nhận thức và hành động. Các chính sách cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả để đảm bảo rằng phụ nữ có thể tham gia bình đẳng vào thị trường lao động.

5.2. Khuyến Nghị Chính Sách

Cần có các khuyến nghị chính sách cụ thể nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong tiền lương, bao gồm việc tăng cường các chương trình đào tạo, nâng cao nhận thức và cải cách các quy định về tiền lương để đảm bảo sự công bằng cho tất cả người lao động.

24/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 Tinh thần là một yếu tố của sức khỏe con người. Khi đề cập đến sức khoẻ thì không phải lúc nào cũng chỉ nói đến khía cạnh thể chất, mà còn là yếu tố tinh thần, xã hội. Xã hội Việt Nam vẫn còn mang nặng tư tưởng phong kiến trọng nam khinh nữ. Chính sự định kiến giới, cụ thể là phân biệt giới trong tiền lương có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tinh thần của người lao động, nhất là với lao động nữ.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TIỀN LƯƠNG Chương 2 trình bày lý thuyết nền tảng cho khung phân tích của luận văn. Làm rõ các khái niệm cơ bản về giới, tiền lương, bình đẳng giới, bình đẳng giới trong tiền lương. Trình bày những ảnh hưởng của bất bình đẳng giới trong tiền lương cũng như lược khảo các nghiên cứu liên quan nhằm rút ra các yếu tố chính có ảnh hưởng đến mức lương của người lao động ở Việt Nam.1 Các khái niệm cơ bản 2.1 Giới Theo Điều 5, Luật bình đẳng giới (2006) thì: Giới là: “chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”. Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau.

Còn giới tính là: “chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ”. Giới được hình thành trong quá trình phát triển nhân cách và là kết quả của một quá trình học hỏi thông qua sự tương tác của cá nhân với môi trường văn hóa, xã hội như gia đình, nhà trường, nơi làm việc. Giới có đặc trưng cơ bản (Nguyễn Thị Nguyệt, 2006): Tính do dạy và học mà có: đứa trẻ phải học để làm con trai hoặc con gái, được dạy dỗ để trở thành nữ giới hay nam giới theo quan niệm, khuôn mẫu của xã hội. Ví dụ, xã hội quy định đặc điểm, vị trí, vai trò và trách nhiệm quyền lợi khác nhau cho phụ nữ và nam giới, chẳng hạn: phụ nữ được cho là phải dịu dàng, biết hy sinh, biết làm việc nhà, biết chăm sóc con cái.

Còn nam giới được cho là phải mạnh mẽ, là trụ cột kinh tế, có nhiều quan hệ xã hội. Tính đa dạng: Giới thể hiện các đặc trưng của những quan hệ xã hội giữa nữ giới và nam giới nên rất đa dạng. Địa vị của nữ giới ở Việt Nam khác xa với địa vị của nước khác châu Mỹ, Châu Âu; địa vị của nữ giới ở nông thôn cũng không hoàn toàn giống với nữ giới sống ở thành thị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Tính luôn biến đổi: Khác với giới tính là các đặc điểm sinh học của nam và nữ đã có từ khi mới sinh ra, giới được hình thành trong quá trình phát triển nhân cách và là kết quả của một quá trình học hỏi thông qua sự tương tác của cá nhân với môi trường văn hóa, xã hội (gia đình, nhà trường, nơi làm việc, phương tiện thông tin đại chúng).

Đây là những đặc điểm không bất biến mà có thể đổi chỗ cho nhau và thay đổi theo sự biến đổi của điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, tập quán. Tính có thể thay đổi được: Cũng vì các quy định về giới do xã hội tạo ra nên cùng với sự tiến bộ nhận thức của xã hội thì các quy định về giới cũng thay đổi theo, chẳng hạn như địa vị xã hội của người phụ nữ hiện nay khác hoàn toàn so với thời phong kiến, phụ nữ có thể làm tổng thống, nam giới có thể làm người nuôi dạy trẻ.2 Bình đẳng giới Là việc “nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó” (Điều 5, Luật bình đẳng giới, 2006). Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới. Nam giới và phụ nữ cùng có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình, có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực của xã hội trong quá trình phát triển, được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống một cách bình đẳng, được hưởng thành quả một cách bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội (Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam, 2004).

Bình đẳng giới không phải là chỉ đấu tranh quyền lợi cho phụ nữ mà là đấu tranh cho sự bất bình đẳng của cả hai giới. Nhưng ở Việt Nam hiện nay, nhìn chung sự bất bình đẳng xảy ra đối với phụ nữ là chủ yếu nên khi đề cập đến bình đẳng giới, sẽ thường nói đến việc đòi quyền lợi cho phụ nữ. Trong gia đình, bình đẳng giới là các thành viên có sự bình đẳng với nhau. Cụ thể là mọi công việc trong gia đình đều được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 các thanh viên, trước hết là vợ và chồng cùng nhau chia sẻ và cùng nhau hưởng thụ thành quả từ những công việc đó mang lại.

Theo khái niệm trên thì bình đẳng giới không có nghĩa là sự hoán đổi vai trò, vị trí của nam và nữ từ thái cực này sang thái cực khác. Chính khái niệm này cũng không tuyệt đối hoá bằng con số hay tỷ lệ ngang bằng nhau mà là sự khác biệt về giới tính trong các vai trò sản xuất, tái sản xuất, vai trò chính trị và cộng đồng, nhất là sự chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc các thành viên gia đình nhằm tạo điều kiện và cơ hội để cho nam, nữ phát triển toàn diện về mọi mặt. Hơn nữa, khái niệm này cũng đề cập đến việc tạo điều kiện và cơ hội cho phụ nữ được bù đắp những khoảng trống do gánh vác phần lớn nội trợ gia đình cũng như việc mang thai, sinh con.3 Bất bình đẳng giới Theo Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ - CEDAW (1979). Đã định nghĩa việc phân biệt đối xử giới: Bất cứ sự phân biệt, sự loại trừ hoặc hạn chế nào được thực hiện trên cơ sở giới tính mà có tác dụng hoặc nhằm mục đích làm suy giảm hoặc vô hiệu hoá sự công nhận, quyền thụ hưởng hoặc quyền sử dụng của phụ nữ, bất chấp tình trạng hôn nhân của họ, trên cơ sở bình quyền nam nữ, nhân quyền và các quyền tự do cơ bản khác trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, dân sự hoặc bất kỳ lĩnh vực nào khác.

Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con ngườicủa Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc năm 1948 định nghĩa rằng: bất cứ sự phân biệt nào hình thành trên cơ sở giới tính, chủng tộc, màu da, tôn giáo, khuynh hướng chính trị, nguồn gốc xã hội mà có ảnh hưởng và làm tổn hại đến việc tiếp cận các cơ hội hay sự đối xử trong công việc và nghề nghiệp thì được coi là có sự bất bình đẳng (Tổng cục dân số kế hoạch hóa gia đình, 2013). Các dạng tồn tại của bất bình đẳng giới: Gánh nặng công việc, sự phân biệt đối xử, bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, những định kiến và bạo lực trên cơ sở giới tính.Từ đó có thể thấy bất bình đẳng giới được hiểu là sự phân biệt trên cơ sở giới tính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 mà sự phân biệt này ảnh hưởng đến sự tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực của xã hội và quá trình phát triển của con người. Xét riêng trong lĩnh vực lao động thì sự bất bình đẳng giới thể hiện ở sự phân biệt trong việc tiếp cận các cơ hội, sự phân biệt đối xử trong công việc và nghề nghiệp cũng như sự phân biệt trong việc thừa hưởng các thành quả lao động giữa lao động nam và lao động nữ.2 Các lý thuyết liên quan về tiền lương và bất bình đẳng giới về tiền lương 2.1 Lý thuyết tiền lương Lý thuyết tiền lương được các nhà kinh tế thuộc trường phái Kinh tế cổ điển đề cập vào cuối thế kỷ 18. William Petty, David Ricardo, Adam Smith là những tác giả nổi bật của trường phái này, là những người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho nguyên lý giá trị lao động (Bùi Thái Quyên, 2012):William Petty cho rằng người lao động được trả lương cao hơn sẽ lười lao động hơn nên tiền lương của công nhân không thể vượt quá những tư liệu sinh hoạt cần thiết.David Ricardo coi lao động là hàng hóa, cho rằng tiền lương là giá cả thị trường của lao động.

Tiền lương được xác định trên cơ sở giá cả tự nhiên của hàng hóa lao động. Giá cả tự nhiên của lao động là giá trị những tư liệu sinh hoạt nuôi sống người công nhân và gia đình họ.Adam Smith xem tiền lương là một phần thu nhập của công nhân làm thuê, là một phần của sản phẩm lao động. Ông ủng hộ việc trả lương cao. Lịch sử về lý thuyết tiền lương có thể được chia thành ba giai đoạn: (1) đến năm 1870 lý thuyết về Quỹ lương thống trị; (2) giai đoạn 1870-1914: lý thuyết về năng suất biên thống trị và (3) giai đoạn 1914- nay: là các lý thuyết về tiền lương theo kinh tế học (John.

Theo Lý Thuyết tiền lương hiệu quả của Akerlof (1982): Người sử dụng lao động nên trả lương cao hơn mức cân bằng vì góp phần làm tăng sức khỏe người lao động, từ đó làm tăng hiệu quả làm việc của công nhân. Khi người lao động nhận được thù lao tốt hơn, ăn thức ăn nhiều chất dinh dưỡng hơn, họ sẽ khỏe mạnh hơn và có năng suất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 lao động cao hơn. Lý luận này rất thích hợp đối với các nước đang phát triển, vì tại đó, người lao động thường không được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng. Tiền lương được các nhà kinh tế học tư sản giải thích là giá cả của lao động hoặc giá cả của dịch vụ hay sản phẩm lao động.

Còn theo Karl Marx, tiền lương chính là giả cả của hàng hóa sức lao động. Dưới chủ nghĩa tư bản, người công nhân bán sức lao động của mình cho nhà tư bản và nhận được tiền lương với tư cách là vật ngang giá (Marx và Angel toàn tập, 1980).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ