Luận án tiến sĩ: Biến tính xenlulo từ bột giấy gỗ keo và ứng dụng chế tạo thuốc phóng

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu biến tính xenlulo từ bột giấy gỗ keo sản xuất trong nước và ứng dụng chế tạo thuốc phóng, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Chuyên ngành

Hóa Hữu Cơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2019

172
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU. MỞ ĐẦU

1.1. Khái quát chung về xenlulo

1.2. Thành phần hóa học chính của bột giấy

1.3. Hình thái cấu trúc của xenlulo

1.4. Tính chất lý-hóa của xenlulo

1.5. Một số đặc tính của xenlulo gỗ keo

1.6. Tổng hợp các công trình khoa học về biến tính xenlulo

1.7. Biến tính xenlulo trong môi trường kiềm

1.8. Biến tính xenlulo trong môi trường axit yếu

1.9. Biến tính xenlulo bằng enzyme

1.10. Biến tính hóa học xenlulo - tổng hợp NC

1.11. Ứng dụng xenlulo biến tính trong chế tạo thuốc phóng

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Vật tư, hóa chất và trang thiết bị thí nghiệm

2.3. Phương pháp biến tính xenlulo và chế tạo thuốc phóng

2.4. Biến tính xenlulo trong môi trường kiềm

2.5. Phương pháp tổng hợp NC

2.6. Phương pháp chế tạo thuốc phóng

2.7. Các phương pháp xác định đặc trưng của xenlulo, NC và thuốc phóng

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Khảo sát đặc trưng của bột giấy gỗ keo

3.2. Đặc trưng kỹ thuật

3.3. Khối lượng phân tử và sự phân bố KLPT

3.4. Đặc trưng theo phổ hồng ngoại FTIR

3.5. Biến tính cấu trúc và đặc trưng của xenlulo gỗ keo

3.6. Ảnh hưởng của độ trắng và công nghệ sản xuất bột giấy

3.7. Ảnh hưởng của điều kiện biến tính đến đặc trưng của xenlulo

3.8. Đặc trưng cấu trúc của xenlulo gỗ keo biến tính

3.9. Biến tính hóa học và đặc trưng của NC từ xenlulo gỗ keo

3.10. Khả năng phản ứng nitro hóa của xenlulo gỗ keo

3.11. Ảnh hưởng của điều kiện phản ứng đến quá trình điều chế NC từ xenlulo gỗ keo

3.12. Đặc trưng của NC từ xenlulo gỗ keo

3.13. Chế tạo và đặc trưng của thuốc phóng từ xenlulo gỗ keo

3.14. Chế tạo thuốc phóng 11/7 và đặc trưng lý – hóa, xạ thuật

3.15. Tính ổn định hóa học của thuốc phóng TPP-VN

3.16. Tính ổn định đặc trưng thuật phóng của thuốc phóng

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC II

PHỤ LỤC III

Tóm tắt

I. Tổng quan về biến tính xenlulo

Biến tính xenlulo là quá trình cải thiện các đặc tính của xenlulo để đáp ứng yêu cầu trong sản xuất. Bột giấy gỗ keo, một nguồn nguyên liệu phong phú, được sử dụng để sản xuất xenlulo. Nghiên cứu cho thấy rằng xenlulo từ bột giấy gỗ keo có thể được biến tính bằng nhiều phương pháp khác nhau như kiềm, axit yếu và enzyme. Mỗi phương pháp có những ưu điểm và nhược điểm riêng, ảnh hưởng đến tính chất của xenlulo sau biến tính. Việc biến tính xenlulo không chỉ cải thiện tính chất vật lý mà còn tăng cường khả năng ứng dụng trong các lĩnh vực như chế tạo thuốc phóng. Theo nghiên cứu, xenlulo biến tính có thể tạo ra các sản phẩm có tính ổn định cao hơn và khả năng phản ứng tốt hơn trong quá trình chế tạo thuốc phóng.

1.1. Tính chất của xenlulo

Tính chất của xenlulo rất đa dạng và phụ thuộc vào nguồn gốc cũng như phương pháp chế biến. Xenlulo có khả năng tạo liên kết hydro mạnh, điều này giúp tăng cường độ bền và tính ổn định của sản phẩm. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng xenlulo từ bột giấy gỗ keo có độ trùng hợp cao, điều này làm cho nó trở thành một nguyên liệu lý tưởng cho việc chế tạo thuốc phóng. Hơn nữa, việc biến tính xenlulo có thể làm thay đổi cấu trúc phân tử, từ đó cải thiện khả năng hòa tan và tính chất cơ lý của nó. Điều này rất quan trọng trong việc sản xuất thuốc phóng, nơi mà tính chất của nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất và độ an toàn của sản phẩm cuối cùng.

II. Quy trình biến tính xenlulo

Quy trình biến tính xenlulo từ bột giấy gỗ keo bao gồm nhiều bước quan trọng. Đầu tiên, bột giấy gỗ keo được xử lý bằng dung dịch kiềm để loại bỏ các tạp chất và cải thiện tính chất của xenlulo. Sau đó, xenlulo được biến tính bằng các phương pháp hóa học như nitro hóa. Quá trình nitro hóa giúp tăng cường khả năng phản ứng của xenlulo, từ đó tạo ra nitroxenlulo (NC) với các đặc tính vượt trội. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng điều kiện phản ứng như nhiệt độ, thời gian và nồng độ dung dịch có ảnh hưởng lớn đến chất lượng của xenlulo sau biến tính. Việc tối ưu hóa các điều kiện này là rất cần thiết để đạt được sản phẩm có chất lượng cao nhất.

2.1. Ảnh hưởng của điều kiện biến tính

Điều kiện biến tính như nồng độ kiềm, thời gian và nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc và tính chất của xenlulo. Nghiên cứu cho thấy rằng nồng độ kiềm cao có thể làm tăng độ hòa tan của xenlulo, trong khi thời gian biến tính quá dài có thể dẫn đến sự phân hủy của xenlulo. Hơn nữa, nhiệt độ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tốc độ phản ứng và chất lượng của sản phẩm cuối cùng. Việc kiểm soát các yếu tố này không chỉ giúp cải thiện tính chất của xenlulo mà còn tăng cường khả năng ứng dụng trong chế tạo thuốc phóng.

III. Ứng dụng xenlulo biến tính trong chế tạo thuốc phóng

Ứng dụng của xenlulo biến tính trong chế tạo thuốc phóng là một trong những điểm nổi bật của nghiên cứu này. Xenlulo sau khi biến tính có thể được sử dụng để sản xuất nitroxenlulo (NC), một loại vật liệu nổ có hiệu suất cao. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng xenlulo từ bột giấy gỗ keo có thể tạo ra NC với các đặc tính kỹ thuật tốt, đáp ứng yêu cầu của ngành công nghiệp quốc phòng. Việc sử dụng xenlulo biến tính không chỉ giúp giảm thiểu chi phí sản xuất mà còn đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định và bền vững.

3.1. Tính ổn định hóa học của thuốc phóng

Tính ổn định hóa học của thuốc phóng là yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu suất và độ an toàn trong quá trình sử dụng. Nghiên cứu cho thấy rằng xenlulo biến tính có khả năng tạo ra các sản phẩm có tính ổn định cao hơn so với xenlulo chưa biến tính. Điều này có thể được giải thích bởi sự thay đổi trong cấu trúc phân tử của xenlulo sau khi biến tính, giúp tăng cường khả năng chống lại các tác động từ môi trường. Kết quả này mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các loại thuốc phóng an toàn và hiệu quả hơn.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. Khái quát chung về xenlulo 1. Thành phần hóa học chính của bột giấy Thành phần hóa học của các nguồn thực vật bao gồm: xenlulo, lignin, hemixenlulo, các chất trích ly, chất vô cơ (tro)… [75, 81, 100]. Bột giấy được sản xuất chủ yếu từ dăm gỗ bằng phương pháp xút, sunfat hoặc sunfit ở nhiệt độ cao trên 150 oC.

Sau đó, bột giấy được tẩy trắng bằng các tác nhân oxi hóa như: clo và các hợp chất của clo, oxi (không khí), hydro peoxit [19, 60]. Sau khi nấu, làm sạch và tẩy trắng, bột giấy thu được có thể có hàm lượng xenlulo cao đến 89 %. Trong thực tế, xenlulo đã tẩy trắng vẫn luôn tồn tại những tạp chất đi cùng như: hemixenlulo, lignin,… [9, 60]. Xenlulo là polyme được cấu tạo từ các mắt xích anhydro--D-glucopyran (gọi tắt là D-gluco).

Mỗi đơn vị mắt xích là vòng pyran 6 cạnh, chứa 3 nhóm hydroxyl tự do. Nhóm hydroxyl bậc một liên kết với nguyên tử cacbon ở vị trí 6, hai nhóm hydroxyl bậc hai liên kết với các nguyên tử cacbon ở vị trí 2 và 3. Các đơn vị mắt xích ở đầu mạch chứa 4 nhóm hydroxyl. Liên kết giữa các đơn vị mắt xích là 1-4-glycozit (hình 1.

Công thức cấu tạo của đại phân tử xenlulo [103]. Xenlulo kỹ thuật đã tẩy trắng có chứa chủ yếu xenlulo bao gồm α-xenlulo, β-xenlulo và γ-xenlulo. Các dạng xenlulo này có bản chất cấu tạo phân tử như nhau nhưng khác nhau ở độ trùng hợp [91]: + α-xenlulo là phân đoạn của xenlulo có độ trùng hợp lớn hơn 200 mắt xích và không hòa tan trong dung dịch NaOH 17,5 % và 9,45% ở 25 oC; luan an 5 + β-xenlulo là phần xenlulo hòa tan trong dung dịch NaOH 17,5 % và 9,45% ở 25 oC và được kết tinh lại bằng cách axit hóa dung dịch. Phân đoạn β- xenlulo có độ trùng hợp trong khoảng 30 ÷ 200 mắt xích; + γ-xenlulo là phân đoạn có độ trùng hợp thấp nhất của xenlulo khoảng 10 ÷ 30 mắt xích.

γ-xenlulo là phần hòa tan trong dung dịch NaOH 17,5 % và 9,45% ở 25 oC và không bị kết tinh lại khi axit hóa để thu β-xenlulo. Phân đoạn này thực tế chứa cả γ-xenlulo và hemixenlulo. Hemixenlulo là hỗn hợp của một số loại polysaccarit, khi thủy phân chủ yếu tạo ra một số đồng phân lập thể thuộc pentoza và một số đồng phân lập thể thuộc hexoza. Khi thủy phân, hemixenlulo tạo ra các monosaccarit.

Hemixenlulo gỗ là rộng (như gỗ keo) gồm có glucuronoxylan (chiếm 15÷30 % gỗ khô tuyệt đối), glucomannan (2÷5 %) [19]. Glucuronoxylan là một dạng hemixenlulo chứa các mắt xích xyloza và vòng pyran của axit O-acetyl- 4-O-metylglucuronic, được gọi tên là xylan. Công thức của xylan được đưa ra trên hình 1. Công thức cấu tạo của xylan từ gỗ cứng [83].

Glucomannan là một dạng khác của hemixenlulo gỗ cứng, được tạo thành từ các đơn vị mắt xích β-D-gluco-pyran và β-D-manno-pyran nối với nhau bằng liên kết 1-4-glycozit. Công thức cấu tạo của dạng này được đưa ra trên hình 1. Dạng mạch của hemixenlulo có thể là mạch thẳng, mạch nhánh với độ trùng hợp thấp (200  300 mắt xích). Về trạng thái tập hợp, phần lớn luan an 6 hemixenlulo tồn tại ở trạng thái vô định hình, chỉ một phần nhỏ tồn tại dưới dạng tinh thể.

Do đó, các tác nhân hóa-lý và hóa học dễ tiếp cận hemixenlulo hơn, khả năng hòa tan cao hơn so với xenlulo. Công thức cấu tạo của glucomannan từ gỗ cứng [83]. Hemixenlulo có thể được tách khỏi xenlulo bởi dung dịch kiềm ở nhiệt độ thường. Khi tách bằng dung dịch KOH, có thể xảy ra các phản ứng làm thay đổi cấu trúc của hemixenlulo.

Bên cạnh đó, hemixenlulo cũng được tách bằng cách chiết bởi dimetylsunfoxit và nước. Bằng cách này, người ta có thể nghiên cứu chính xác hơn cấu tạo phân tử của hemixenlulo [83]. Lignin là hợp chất cao phân tử cấu tạo phức tạp gồm các mắt xích phenylpropan. Các loại xenlulo cũng có lignin với cấu tạo phân tử khác nhau.

Một số dạng cấu tạo các mắt xích phenylpropan trong nguyên liệu khác nhau được chỉ ra trên hình 1. Đơn vị cấu tạo cơ bản của lignin: I – lignin gỗ lá kim; I, II – lignin gỗ là rộng; I, II, III – lignin cây thân thảo [18]. Trong các xenlulo có độ trắng cao, lượng lignin còn lại rất nhỏ và khó có thể tách triệt để khỏi xenlulo. Do đó, yêu cầu hàm lượng lignin của một số loại xenlulo dùng để tổng hợp các dẫn suất NC cho phép không lớn hơn 0,5 % khối lượng [21].

Hình thái cấu trúc của xenlulo Cấu hình là chìa khóa để giải đáp các vấn đề về cơ chế và động học nhiều phản ứng của xenlulo. Các đơn vị mắt xích của xenlulo có cấu hình dạng ghế và tồn tại hai hình thái cấu trúc dạng ghế tương ứng với nhóm thế ở vị trí axial và equatorial. Ở cấu hình dạng ghế khác nhau, các nhóm thế hydroxyl có hoạt tính khác nhau. Các xenlulo có nhóm thế hướng xích đạo tham gia phản ứng thuận lợi hơn (hình 1.

Cấu hình dạng ghế có nhóm hydroxyl hướng xích đạo [13]. Các đoạn mạch xenlobio tham gia vào cấu tạo mạng tinh thể. Các đoạn mạch này quay 1800 đối với nhau, xếp theo một hướng và song song với nhau. Hai đoạn mạch nằm trên cùng mặt phẳng của mạng tinh thể tương tác với nhau, hình thành một lớp.

Giữa các đại phân tử xenlulo xuất hiện các liên kết hydro, liên kết Van der Waals. Ngoài ra, các liên kết hydro nội phân tử cũng xuất hiện ngay trong phân tử xenlulo [18]. Sự sắp xếp liên kết hydro trong sợi xenlulo bằng các cách khác nhau tạo ra 4 dạng xenlulo: Xenlulo I, xenlulo II, xenlulo III, xenlulo IV [66]. Trong đó, phổ biến nhất là xenlulo I và xenlulo II (hình 1.

Mô hình liên kết hydro của xenlulo: (a) - dạng I; (b) - dạng II [18]. luan an 8 Xenlulo dạng I có các đoạn mạch ở cùng phía của mạng tinh thể, cùng nằm trên một mặt phẳng. Khác với xenlulo dạng I, xenlulo dạng II có các đoạn mạch ở cùng phía của mạng tinh thể, không cùng nằm trên một mặt phẳng mà nghiêng một góc như nhau so với mặt phẳng của mạng tinh thể (hình 1. Mô hình tinh thể của xenlulo: (a) - xenlulo dạng I; (b) - xenlulo dạng II [103].

Theo Nelson và O’Conner [45] xenlulo tồn tại tinh thể với 3 dạng khác nhau là xenlulo dạng I, dạng II và dạng III; ngoài ra xenlulo còn có vùng vô định hình. Bằng phương pháp phổ hồng ngoại ghi trong vùng 4000÷400 cm-1, tác giả này đã đưa ra đặc điểm phổ FTIR của các dạng xenlulo khác nhau. Sau này, tác giả Mukhamadeeva và cộng sự đã nghiên cứu đặc trưng phổ IR của bông và gỗ biến tính trong khoảng 700-30 cm-1 [74]. Từ các dải phổ đặc trưng cho cấu trúc xenlulo các tác giả đã đề xuất một số thông số đánh giá cấu trúc theo phổ FTIR: - Chỉ số trật tự ngang (LOI) là tỷ lệ cường độ hấp thụ của đỉnh phổ 1430 cm-1 so với đỉnh phổ 896 cm-1.

Tỷ lệ cường độ hấp thụ giữa các dải phổ 1372 cm-1 so với 2900 cm-1, cũng được Nelson và O'Connor đề xuất là chỉ số tinh thể tổng (TCI), đã được sử dụng để đánh giá chỉ số tinh thể hồng ngoại. Xét về tính linh động của đại phân tử, cường độ liên kết hydro (HBI) của xenlulo liên quan chặt chẽ đến hệ tinh thể và mức độ linh động phân tử. Tỷ lệ giữa các dải hấp thụ tại 3400 cm-1 và 1318 cm-1 đã được sử dụng để nghiên cứu HBI của xenlulo. luan an 9 Bằng phương pháp nhiễu xạ tia X và phương pháp phổ IR, người ta đã xác định được các đại phân tử xenlulo sắp xếp theo một trật tự nhất định tạo thành các vùng tinh thể và vùng vô định hình (hình 1.

Đơn vị cấu trúc cơ bản của xenlulo tự nhiên có chiều dài khoảng 100  250 nm, tiết diện ngang hình chữ nhật có các cạnh khoảng 3 nm và 7  10 nm. Kích thước đại phân tử xenlulo khoảng 5000 nm nên các mạch xenlulo có thể trải qua nhiều vùng tinh thể và vùng vô định hình. Ngoài ra, đại phân tử xenlulo còn tồn tại dưới dạng gấp nếp trong phạm vi một tinh thể. Các vùng tinh thể và vùng vô định hình tập hợp thành tổ chức lớn hơn gọi là vi xơ có kích thước thay đổi tùy thuộc vào từng loại thực vật, chiều ngang của vi xơ khoảng 10  20 nm.

Các vi xơ tập hợp lại thành tổ chức lớn hơn gọi là sợi. Các bó mạch dạng sợi có thể tập hợp thành từng lớp và được tách ra từ tế bào [18]. Sự sắp xếp các đại phân tử trong sợi xenlulo [18]. Ranh giới giữa các vùng tinh thể (định hướng) và vùng vô định hình (không định hướng) cũng không rõ rệt, thường trải qua vùng chuyển tiếp.

Đối với các nguồn nguyên liệu xenlulo khác nhau, mức độ tinh thể có thể sắp xếp theo trật tự sau: xenlulo bông > xenlulo gỗ > xenlulo sau kiềm hóa > xenlulo hoàn nguyên (xenlulo kết tinh lại từ dung dịch) [18]. Tính chất lý-hóa của xenlulo Xenlulo là vật liệu dạng sợi, có mật độ khoảng 1,5 g/cm3, có màu trắng hoặc màu nâu nhạt tùy thuộc vào công nghệ nấu và mức độ tẩy trắng. Phụ thuộc vào yêu luan an 10 cầu sử dụng, xenlulo thường có độ trắng khác nhau từ 74 đến 90 %ISO. Xenlulo sau khi sản xuất thường được xeo thành dạng tấm vuông hoặc cuộn.

Kích thước sợi xenlulo tùy thuộc vào bản chất nguồn nguyên liệu và tuổi cây. Sợi xenlulo từ gỗ lá rộng, trong đó có gỗ keo, thường có kích thước ngắn hơn và đường kính nhỏ hơn từ gỗ lá kim. Hình dạng sợi xenlulo cũng khác nhau tùy thuộc vào nguồn gốc thực vật: sợi xenlulo từ gỗ lá kim thường dẹt, sợi xenlulo từ bông dẹt và xoắn. Kích thước sợi của một số loại xenlulo được đưa ra trong bảng 1.

Kích thước sợi của một số loại xenlulo [18]. Chiều dài trung Chiều rộng trung TT Nguyên liệu thực vật bình sợi, mm bình sợi, μm 1 Gỗ lá rộng 1,0 ÷ 1,4 14 ÷ 40 2 Gỗ keo tai tượng 1,0 10 3 Gỗ lá kim 3,0 ÷ 4,0 20 ÷ 40 4 Bã mía khử tủy 1,7 20 5 Xơ bông 25 20 1. KLPT và sự phân bố KLPT của xenlulo Khối lượng phân tử (KLPT) là một trong những thông số quan trọng, quyết định tính chất của vật liệu cao phân tử, trong đó có xenlulo và dẫn suất. Các đặc trưng về pha cấu trúc, tính trương nở, hóa dẻo, hòa tan và các tính chất cơ lý của vật liệu trên cơ sở polyme phụ thuộc rất nhiều vào KLPT và sự phân bố KLPT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Biến tính xenlulo từ bột giấy gỗ keo và ứng dụng chế tạo thuốc phóng" của tác giả Đoàn Minh Khai, dưới sự hướng dẫn của PGS. Phan Đức Nhân và TS. Trịnh Đắc Hoành, được thực hiện tại Viện Khoa Học Và Công Nghệ Quân Sự vào năm 2019. Nghiên cứu này tập trung vào việc biến tính xenlulo từ bột giấy gỗ keo, một nguồn nguyên liệu phong phú, nhằm phát triển các ứng dụng trong chế tạo thuốc phóng. Bài luận án không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình biến tính xenlulo mà còn mở ra hướng đi mới cho việc ứng dụng trong ngành công nghiệp quốc phòng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các ứng dụng của vật liệu trong lĩnh vực hóa học, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như "Luận án tiến sĩ về cấu trúc nano vàng bạc trên silic trong nhận biết phân tử hữu cơ bằng tán xạ Raman", nơi nghiên cứu về các cấu trúc nano và ứng dụng của chúng trong nhận biết phân tử hữu cơ. Bên cạnh đó, "Luận án tiến sĩ về mô hình hóa quá trình tổng hợp lignosulfonat từ dịch đen bột giấy sulfat" cũng là một tài liệu hữu ích, cung cấp cái nhìn về quy trình tổng hợp từ bột giấy, tương tự như nghiên cứu về xenlulo. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận án tiến sĩ về hoạt tính sinh học của hợp chất tử vi nấm biển tại miền Trung Việt Nam", nghiên cứu về các hợp chất tự nhiên và ứng dụng của chúng trong sinh học, mở rộng thêm kiến thức về các ứng dụng của vật liệu trong lĩnh vực sinh học.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn hiểu rõ hơn về các ứng dụng của vật liệu trong nghiên cứu mà còn mở ra nhiều hướng đi mới trong việc phát triển công nghệ và ứng dụng trong thực tiễn.