Luận văn thạc sĩ nghiên cứu biến tính tinh bột dong riềng và tinh bột ngô bằng phương pháp acetyl hóa và phosphate hóa ứng dụng trong thực phẩm

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu biến tính tinh bột dong riềng và tinh bột ngô bằng acetyl hóa và phosphate hóa, ứng dụng trong thực phẩm.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2016

70
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.1.1. Mục tiêu của đề tài

1.1.2. Yêu cầu của đề tài

1.2. Ý nghĩa của đề tài

1.2.1. Ý nghĩa trong khoa học

1.2.2. Ý nghĩa trong thực tiễn

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học

2.2. Khái niệm tinh bột biến tính

2.3. Các phương pháp biến tính tinh bột

2.3.1. Biến tính tinh bột bằng phương pháp vật lý

2.3.2. Biến tính tinh bột bằng phương pháp hóa học

2.4. Ứng dụng của tinh bột biến tính

2.5. Tinh bột dong riềng

2.6. Tình hình nghiên cứu tinh bột biến tính trong nước và trên thế giới

2.6.1. Tình hình nghiên cứu tinh bột biến tính trên thế giới

2.6.2. Tình hình nghiên cứu tinh bột biến tính trong nước

3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

3.4.1. Phương pháp nghiên cứu

3.4.2. Phương pháp xác định các chỉ tiêu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả nghiên cứu

4.2. Kết quả biến tính tinh bột bằng phosphate hóa

4.3. Kết quả biến tính tinh bột bằng acetyl hóa

4.4. Kết quả thử nghiệm tinh bột biến tính để tạo cấu trúc của sữa chua

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tóm tắt

I. Giới thiệu và mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào biến tính tinh bột từ tinh bột dong riềngtinh bột ngô thông qua hai phương pháp chính: acetyl hóaphosphate hóa. Mục tiêu chính là xác định các điều kiện tối ưu như nhiệt độ, nồng độ tác nhân, pH, và thời gian để tạo ra tinh bột biến tính có chất lượng cao, phù hợp cho ứng dụng thực phẩm. Nghiên cứu cũng nhằm tìm ra loại tinh bột phù hợp nhất để tạo cấu trúc cho sản phẩm sữa chua, góp phần nâng cao giá trị kinh tế của nông sản.

1.1. Mục tiêu cụ thể

Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định các giá trị tối ưu cho quá trình biến tính tinh bột bằng acetyl hóaphosphate hóa, bao gồm nhiệt độ, nồng độ tác nhân, pH, và thời gian. Ngoài ra, nghiên cứu cũng nhằm xác định loại tinh bột biến tính phù hợp nhất để tạo cấu trúc cho sản phẩm sữa chua, từ đó mở rộng ứng dụng thực phẩm của tinh bột.

1.2. Yêu cầu nghiên cứu

Nghiên cứu yêu cầu thực hiện biến tính tinh bột bằng hai phương pháp acetyl hóaphosphate hóa, đồng thời xác định các điều kiện tối ưu để đạt chất lượng cao nhất. Ngoài ra, cần thử nghiệm sản phẩm tinh bột biến tính trong việc tạo cấu trúc cho sữa chua, đánh giá hiệu quả và khả năng ứng dụng thực tế.

II. Tổng quan về tinh bột và phương pháp biến tính

Tinh bột là một polysaccharide dự trữ chủ yếu trong thực vật, bao gồm hai thành phần chính là AmiloseAmilopectin. Tinh bột biến tính là kết quả của quá trình thay đổi cấu trúc phân tử thông qua các tác nhân vật lý, hóa học, hoặc enzym. Các phương pháp biến tính tinh bột phổ biến bao gồm acetyl hóa, phosphate hóa, và các phương pháp vật lý như hồ hóa sơ bộ hoặc gia nhiệt khô. Mỗi phương pháp mang lại những tính chất mới cho tinh bột, phù hợp với các ứng dụng thực phẩm khác nhau.

2.1. Khái niệm tinh bột biến tính

Tinh bột biến tính là loại tinh bột đã qua quá trình thay đổi cấu trúc phân tử, tạo ra các phân tử polysaccharide mạch ngắn hơn hoặc gắn thêm các nhóm chức. Quá trình này có thể thực hiện thông qua các tác nhân vật lý, hóa học, hoặc enzym, giúp cải thiện các tính chất như độ nhớt, độ bền gel, và khả năng hòa tan.

2.2. Các phương pháp biến tính tinh bột

Các phương pháp biến tính tinh bột bao gồm acetyl hóa, phosphate hóa, và các phương pháp vật lý như hồ hóa sơ bộ hoặc gia nhiệt khô. Acetyl hóa giúp tăng độ bền và độ nhớt của tinh bột, trong khi phosphate hóa cải thiện khả năng tạo gel và độ ổn định nhiệt. Các phương pháp vật lý như hồ hóa sơ bộ giúp tinh bột dễ dàng hòa tan và ổn định hơn trong quá trình bảo quản.

III. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng

Nghiên cứu đã xác định được các điều kiện tối ưu cho quá trình biến tính tinh bột bằng acetyl hóaphosphate hóa, bao gồm nhiệt độ, nồng độ tác nhân, pH, và thời gian. Kết quả cho thấy tinh bột biến tính có độ nhớt, độ bền gel, và khả năng hòa tan được cải thiện đáng kể, phù hợp cho ứng dụng thực phẩm. Đặc biệt, tinh bột biến tính đã được thử nghiệm thành công trong việc tạo cấu trúc cho sữa chua, mở ra tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong công nghệ thực phẩm.

3.1. Kết quả biến tính tinh bột

Kết quả nghiên cứu cho thấy tinh bột biến tính bằng acetyl hóaphosphate hóa có độ nhớt, độ bền gel, và khả năng hòa tan được cải thiện đáng kể. Các điều kiện tối ưu bao gồm nhiệt độ 50-60°C, nồng độ tác nhân 5-10%, pH 6-7, và thời gian biến tính từ 1-2 giờ.

3.2. Ứng dụng trong thực phẩm

Tinh bột biến tính đã được thử nghiệm thành công trong việc tạo cấu trúc cho sữa chua, mang lại độ đặc và độ ổn định cao. Nghiên cứu mở ra tiềm năng ứng dụng rộng rãi của tinh bột biến tính trong công nghệ thực phẩm, từ sản xuất sữa chua đến các sản phẩm thực phẩm khác như bánh kẹo, đồ uống, và thực phẩm chức năng.

02/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp, trên một nửa dân số sống dựa vào nghề nông. Trong những năm gần đây, nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đã đạt đƣợc những thành tựu to lớn. Các sản phẩm nông nghiệp không ngừng gia tăng cả về số lƣợng và chất lƣợng. Nhƣ các sản phẩm gạo, khoai, sắn, dong riềng…hiện nay các sản phẩm này chủ yếu sử dụng dƣới dạng thô ít qua chế biến dẫn đến hiệu quả kinh tế không cao (Nguyễn Thị Ngọc Huệ và cs, 2006) [10].

Tinh bột là polysaccharide chủ yếu có trong hạt, củ, thân cây và lá cây. Một lƣợng tinh bột đáng kể có trong các loại quả nhƣ chuối và nhiều loại rau trong đó xảy ra sự biến đổi thuận nghịch từ tinh bột thành đƣờng glucoza phụ thuộc vào quá trình chín và chuyển hóa sau thu hoạch. Tinh bột là một trong những nguyên liệu cho nhiều ngành nhƣ công nghiệp thực phẩm, công nghiệp giấy, công nghiệp dệt, khai khoáng, trong sản xuất thuốc… Tuy nhiên tinh bột tự nhiên vẫn còn hạn chế nhiều tính chất nhƣ sự thoái hóa dịch hồ tinh bột, độ trong của tinh bột bị giảm khi bảo quản lâu, độ nhớt, độ bền gel, độ tan…chƣa đáp ứng đƣợc những yêu cầu kỹ thuật khác nhau trong sản xuất. Vì vậy cần phải cải biến tinh bột, tức là làm thay đổi cấu trúc, tính chất của tinh bột, tạo ra tính chất mới bằng các tác nhân vật lí, hoá học hoặc enzym để tạo ra các dẫn xuất tinh bột với các phân tử bị cắt ngắn đi, nối dài ra, sắp xếp lại…để phù hợp với từng ngành nghề và các loại sản phẩm khác nhau.

Khi đã có cấu trúc hoá học thay đổi thì tinh bột dẫn xuất cũng sẽ thu đƣợc những tính chất mới khác tinh bột ban đầu nhƣ có khả năng thay thế một phần chất béo, có khả năng bao bọc…Nhờ vậy nâng cao đƣợc lĩnh vực ứng dụng và từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng và hiệu quả kinh tế. Hiện nay, các sản phẩm tinh bột biến tính nghiên cứu ở nƣớc ta, và trên thế giới rất đa dạng và đƣợc ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm và các ngành công nghiệp khác. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay hầu hết các sản phẩm tinh bột biến tính vẫn đang nhập khẩu hoặc sản xuất trong nƣớc bởi các công ty nƣớc n ngoài hoặc liên doanh. Và nhằm tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp của nông dân tránh tình trạng đƣợc mùa mất giá, mất mùa đƣợc giá.

Giúp nông dân an tâm sản xuất. Chính vì vậy,em chọn đề tài: ‘‘Nghiên cứu biến tính tinh bột bằng các phương pháp acetyl hóa và phosphate hóa ứng dụng trong thực phẩm’’ là cần thiết. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu của đề tài Xác định các giá trị về nhiệt độ, nồng độ tác nhân, pH, thời gian biến tính để sản phẩm tinh bột biến tính bằng acetyl hóa và phosphate nhận đƣợc có chất lƣợng tốt nhất.

Xác định đƣợc loại tinh bột có tính chất phù hợp nhất để tạo cấu trúc cho sản phẩm sữa chua. Yêu cầu của đề tài - Nghiên cứu biến tính tinh bột bằng phƣơng pháp phosphate hóa, xác định nhiệt độ, nồng độ tác nhân, pH, thời gian để chất lƣợng tinh bột biến tính đạt chất lƣợng cao nhất. - Nghiên cứu biến tính tinh bột bằng phƣơng pháp acetyl hóa, xác định các điều kiện nồng độ tác nhân, pH, thời gian, để chất lƣợng tinh bột biến tính đạt chất lƣợng cao nhất. - Thử nghiệm đƣợc sản phẩm tinh bột biến tính trong tạo cấu trúc cho sữa chua.

Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học - Nghiên cứu và xác định các giá trị về nhiệt độ, nồng độ tác nhân, pH, thời gian biến tính tinh bột để đạt tiêu chuẩn sản phẩm hàng hóa. - Nghiên cứu đƣợc tinh bột biến tính phù hợp để tạo cấu trúc cho sữa chua. - Tạo tiền đề cho những nghiên cứu về tinh bột cho sinh viên khóa sau.

Ý nghĩa trong thực tiễn - Tạo ra nhiều sản phẩm mới từ tinh bột. - Giải quyết đầu ra cho một số sản phẩm nông sản từ đó nâng cao giá trị kinh tế cho nông sản giúp cải thiện đời sống nông dân. n PHẦN 2 Tổng quan tài liệu 2. Cơ sở khoa học 2.

Khái niệm tinh bột biến tính Tinh bột là một loại polysaccharide dự trữ chủ yếu ở thực vật, có trong các hạt hòa thảo, trong củ, thân cây và lá cây, một lƣợng đáng kể tinh bột cũng có trong các loại nhƣ chuối và nhiều loại rau. Tinh bột có nhiều trong các loại lƣơng thực do đó các loại lƣơng thực đƣợc coi là nguồn nguyên liệu chủ yếu để sản xuất tinh bột. Tinh bột đƣợc giải phóng khi tế bào bị phá vỡ. Hàm lƣợng tinh bột đƣợc dự trữ, thành phần, kích thƣớc và hình dạng của hạt tinh bột trong các nguyên liệu khác nhau thì khác nhau (Hoàng Kim Anh và cs, 2005) [1].

Tinh bột bao gồm hai thành phần chính là Amilose và Amilopectin với các tỉ lệ khác nhau phụ thuộc vào nguồn gốc của tinh bột. Ngoài hai thành phần này tinh bột còn có một phần rất nhỏ các chất béo, protein và các chất tro. Amilose có cấu tạo mạch thẳng gồm các phân tử α – D - glucoza liên kết bằng liên kết 1,4 - glucozit, Amylopectin có cấu trúc mạch nhánh trong đó các đơn vị glucoza liên kết với nhau bởi liên kết 1,4 và 1,6 glucozit. Amilose và Amylopectin khác nhau về cấu tạo và nhiều tính chất nên các loại tinh bột với tỷ lệ Amilose/Amylopectin khác nhau cũng có nhiều tính chất và khả năng ứng dụng khác nhau (Lê Ngọc Tú và cs, 2000) [16].1: Amilose và Amolopectin n (Nguồn: http://www.com/) Tinh bột tự nhiên tồn tại dạng hạt và có nhiều tính chất đặc trƣng: Tính chất thủy nhiệt, khả năng hồ hóa tạo dịch nhớt dẻo, khả năng tạo gel, tạo màng, tạo độ phồng, khả năng bị thoái hóa…Ngƣời ta có thể làm thay đổi ở mức độ nào đó các tính chất của tinh bột cho phù hợp với yêu cầu sản xuất dƣới tác động của các nhân tố nhƣ vật lý, hóa học hay enzym.

Tinh bột biến tính là loại tinh bột đã qua quá trình làm thay đổi cấu trúc phân tử, tạo ra các phân tử polysaccharide mạch ngắn hơn hay gắn các chất, các nhóm khác vào phân tử tinh bột. Dƣới tác dụng của các tác nhân nhƣ vật lý, hóa học, sinh học, dẫn đến làm thay đổi cấu trúc vật lý, hóa học của tinh bột (Lê Ngọc Tú và cs, 1994) [15]. Hiện nay tinh bột đã đƣợc sử dụng rất phổ biến trong các loại thực phẩm và đã đƣợc quy định rõ trong thông tƣ số: 27/2012/TT-BYT hƣớng dẫn về việc quản lý phụ gia thực phẩm dƣới đây là một số loại tinh bột biến tính đƣợc phép sử dụng trong thực phẩm ở Việt Nam: - E1400: Dextrin, tinh bột rang trắng và vàng - E1401: Tinh bột đã đƣợc xử lý axit - E1402: Tinh bột đã đƣợc xử lý kiềm - E1403: Tinh bột đã khử màu - E1404: Tinh bột đã xử lý oxy hóa - E1405: Tinh bột đã xử lý enzym - E1401: Tinh bột đã đƣợc xử lý axit - E1410: Monostarch phosphate - E1411: Distarch glycerol - E1412: Distarch phosphate - E1413: Phosphated distarch phosphate - E1414: Acetylated distarch phosphate - E1420: Starch acetate este hóa với acetic anhydride - E1421: Starch acetate este hóa với vinyl acetate n - E1422: Acetylated distarch adipate - E1423: Acetylated distarch glycerol - E1440: Hydroxypropyl starch - E1442: Hydroxypropyl distarch phosphate - E1450: Starch natri octenyl succinat - E1451: Acetylated oxydized starch 2. Các phương pháp biến tính tinh bột 2.

Biến tính tinh bột bằng phương pháp vật lý Biến tính bằng trộn với chất rắn trơ Do tinh bột có ái lực với nƣớc nên khi tinh bột hòa tan vào nƣớc sẽ bị vón cục. Nên ta có thể trộn tinh bột với chất rắn trơ nhƣ bột saccaroza…nhằm làm tinh bột dễ dàng phân tán vào trong nƣớc. Khi trộn lẫn đồng đều với các chất này các hạt tinh bột sẽ tách nhau ra, vì vậy chúng sẽ dễ dàng hydrat hóa độc lập và không kết lại với nhau thành cục (Lê Ngọc Tú và cs, 2000) [16]. Biến tính bằng hồ hóa sơ bộ Tinh bột thô đƣợc hồ hóa trong nƣớc dƣ sau đó sấy khô ta thu đƣợc tinh bột hồ hóa sơ bộ.

Dƣới tác dụng của nhiệt và ẩm làm đứt các liên kết phân tử, phá hủy cấu trúc hạt tinh bột, sau đó sẽ đƣợc tái liên hợp một phần sau quá trình sấy. Tính chất của tinh bột hồ hóa sơ bộ: - Trƣơng nhanh trong nƣớc - Biến đổi chậm tính chất khi bảo quản - Bền khi ở nhiệt độ thấp - Đặc, giữ nƣớc, giữ khí tốt. Ngƣời ta thƣờng dùng tinh bột hồ hóa sơ bộ trong trƣờng hợp cần độ đặc, giữ nƣớc mà không cần gia nhiệt. Ngƣời ta sử dụng trong các loại bánh nhằm giữ các chất bay hơi giữ nƣớc giảm sự oxy hóa chất béo.

Tinh bột này cũng đƣợc dùng để huyền phù hóa tinh bột và nƣớc (Lê Ngọc Tú và cs, 2000) [16]. Biến tính tinh bột bằng gia nhiệt khô ở nhiệt độ cao n Dextrin là sản phẩm phân giải nửa vời của tinh bột. Thực tế pirodextrin thu đƣợc khi gia nhiệt ở tinh bột khô ở nhiệt độ 175-195°C trong thời gian 7 - 18h. Phƣơng pháp chế tạo pirodextrin nhƣ sau: Phun axit vào tinh bột có độ ẩm 5%.

Có thể dùng làm chất xúc tác. Cũng có thể cho thêm các tác nhân kiềm tính nhƣ Canxi phosphate, Natri bicacbonat hoặc Trianolamin làm chất đệm (để làm giảm bớt độ axit khi ở nhiệt độ cao). Sau khi sấy nhẹ tinh bột đến độ ẩm từ 1 - 5% thì tiến hành dextrin hóa trong thiết bị trộn có gia nhiệt bằng hơi, bằng dầu hoặc đốt nóng trực tiếp. Dextrin hóa xong thì làm nguội.

Khi dextrin hóa thƣờng xảy ra 2 phản ứng: - Phân giải tinh bột thành sản phẩm có khối lƣợng phân tử thấp hơn. - Phản ứng tái trùng hợp các sản phẩm vừa mới tạo thành ở trên chủ yếu bằng liên kết 2 - 6 tạo cấu trúc có độ phân nhánh cao. Ở giai đoạn đầu phản ứng thủy phân là chủ yếu, nên độ nhớt của tinh bột lúc này bị giảm mạnh. Khi tăng nhiệt độ lên thì phản ứng tái trùng hợp mới trở thành phản ứng chính.

Ngoài ra ở nhiệt độ cao còn xảy ra phản ứng chuyển glucozit: các liên kết 1 - 4 glucozit không bền trong amylose lúc này sẽ chuyển thành liên kết 1 - 6 bền hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu biến tính tinh bột dong riềng và ngô bằng acetyl hóa và phosphate hóa ứng dụng thực phẩm là một tài liệu chuyên sâu về việc cải thiện tính chất của tinh bột thông qua các phương pháp hóa học như acetyl hóa và phosphate hóa. Nghiên cứu này tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình biến tính để tạo ra tinh bột có khả năng ứng dụng cao trong ngành thực phẩm, đặc biệt là trong việc cải thiện độ nhớt, độ ổn định và khả năng chịu nhiệt. Kết quả nghiên cứu mang lại lợi ích thiết thực cho các nhà sản xuất thực phẩm, giúp họ tạo ra sản phẩm chất lượng hơn với chi phí hợp lý.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp chiết xuất và biến đổi hóa học trong thực phẩm, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ kỹ thuật hóa học khảo sát ảnh hưởng của enzyme và vi sinh vật đến quá trình làm giàu saponin từ dịch chiết quả bồ hòn sapindus mukorossi gaertn, nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của enzyme trong quá trình chiết xuất. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ kỹ thuật hóa học trích ly capsaicin từ ớt capsicum annuum l sử dụng lưu chất co2 siêu tới hạn cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về công nghệ chiết xuất hiện đại. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ nghiên cứu thành phần hóa học và tác dụng ức chế enzyme α glucosidase từ loài trà shan tuyết camellia sinensis var assamica j w mast kitam sẽ giúp bạn khám phá thêm về ứng dụng của các hợp chất hóa học trong thực phẩm chức năng.