Chương 1 : Tong quan về các biện pháp phụt va cao áp để gia cô nền khi xây dựng công trình ngâm. Chương 2 : Lý thuyết tính toán chuyển vị mặt đất khi thi công ham b ng máy đào TBM. Chương 3: Tính toán chuyển vị mặt đất theo phương pháp phần tử h u hạn (Finite Elements Method-FEM). Chương 4: Ung dung tính toán va phân tích hiệu quả biện pháp gia cỗ xung quanh công trình ngầm cho tuyến metro 1, đoạn Nhà Hát — Ba Son.
Phương pháp nghiên cứu Phương pháp lý thuyết: sử dụng các cơ sở lý thuyết về co học dé tính toán chuyển vị tại mặt đất khi xây dựng công trình ngầm 2 Phương pháp mô phỏng: sử dụng phần mềm Plaxis 2D để mô phỏng bài toán dùng biện pháp gia cỗ xung quanh nền và không gia cô từ đó có cơ sở dé đánh giá và so sánh lựa chọn biện pháp hop lý. Y nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Các kết quả nghiên cứu của dé tài có thé làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho chuyên ngành công trình ngầm khi lựa chọn biện pháp gia cố nền xung quanh ham. Đề tài phù hợp với thực tế ngành xây dựng Việt Nam, đặc biệt là tại Thành phố Hồ Ch Minh. Trên cơ sở đó, kết quả của để tài có thể áp dụng sơ bộ cho các công trình ngầm tương tự, từ đó lựa chọn được giải pháp thi công phù hợp cũng như có kinh tế cao.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi nghiên cứu đê tài chỉ sử dụng sô liệu địa chat tai một hô khoan mang tính chat cục bộ, vì vậy cân mở rộng nghiên cứu và xem xét tông quát hơn với số liệu địa chất toàn bộ đoạn tuyến ngầm thi công b ng TBM. Trong thực tế, có nhiều biện pháp gia cố nền phù hợp với từng điều kiện cụ thé nhưng dé tài chỉ tập trung nghiên cứu gia cố nền b ng biện pháp phụt v a áp lực cao. Số liệu thực tế còn hạn chế vì đây là công trình lần đầu được xây dựng tại Việt Nam và đang trong giai đoạn hoàn thành nên nh_ng kết luận chỉ mang tính lý thuyết cần xác định lại b ng thực nghiệm để đánh gia khách quan hon. Đề tài chỉ nghiên cứu gia cô phun v acho hai bên và phía trên hầm riêng phan ph a dưới hầm có địa chất tốt nên không gia có.
CHUONG 1: | TONG QUAN VE CÔNG NGHỆ PHỤT VỮA CAO ÁP KHI XÂY DỰNG CONG TRÌNH NGAM. Công trình ngầm được xây dựng n m sâu trong lòng đất, phạm vi xây dựng có thể bị hạn chế trong không gian đô thị và điều kiện địa chất phức tạp nên việc gia có phần nền móng dé đảm bao sự 6n định cho công trình cũng như hạn chế ảnh hưởng đến các công trình hiện h u là vấn đề thiết yếu. Jet- grouting là một phương pháp gia cô và xử lý nền được sử dụng khá linh hoạt với nhiều ưu điểm nỗi bật: thi công điều kiện chật hẹp, có thé xử lý hầu hết các loại địa chất, nhiều độ sâu khác nhau mà không cần gia cô từ mặt đất trở xuống.1 Mục đích công nghệ phụt vữa cao áp.{ l | Phương pháp Jet-grouting tao ra khối soilcrete dam bảo về cường độ với các hình dạng khác nhau thông qua các yếu tố như: tốc độ xoay, tốc độ nâng cần, cách bố tr. Mục đ ch của việc phụt va khi xây dựng công trình ngầm là dé gia cô đất yếu xung quanh ham nh m giảm độ lún bề mặt dé đảm bảo ồn định cho công trình cũng như công trình lân cận khi thi công.
Tai vi tri gia cô kẹp bên hồng Nha Hát (Hình 1.1) với việc điều chỉnh các thông số modul đàn hồi E, bề dày tường cọc jet-grouting ồ (Hình 1.2), giá trị mat mát thé tích VL(%) nh m chọn thông số tối ưu cho dia chất khu vực dé giảm độ lún bề mặt. Vincom Tower feuas ContiSHaegl Hình 1.1: Mặt bằng phụt vữa đoạn kẹp bên hông Nhà Hát thuộc tuyến Metrol 4 Hình 1.2: Mặt cắt gia có hai bên và bên trên ham.2 Tổng quan về công nghệ Jet-grouting.1 Lịch sử phát triển.1 Trên thé giới Khả năng xói của tia nước đã được sử dựng cho mục đ ch đào đất từ rất sớm, đặt biệt trong công nghiệp khai thác mỏ, thậm chí có một số tài liệu cho r ng kỹ thuật này được áp dụng từ thời Trung Cổ. Kỹ thuật Jet-Grouting sớm được phat minh ở Anh vào thập niên 50, nhưng được ứng dụng đầu tiên ở Nhật vào thập niên 70 (Essler & Yoshida 2004). Nh ng nghiên cứu và phát triển ban đầu sử dụng nguyên lý về cắt và xói đất vào khoảng năm 1965 bởi Yamakado và cộng sự (Xanthakos et al.
1994 từ nguồn Miki & Nikanishi 1984). Trong giai đoạn này Jet-Grouting được sử dụng dau tiên chỉ để tạo tường ngăn nước (Essler & Yoshida 2004). Vào đầu nh ng năm thập niên 70, phut v a cao áp kết hợp xoay cần xuất hiện ở Nhật vì kết cầu dạng bản khó tạo với các bề dày khác nhau và có cường độ yếu (Essler & Yashida 2004). Cuối nh ng năm của thập niên 70, hầu hết các kỹ thuật cơ bản về Jet Grouting đã được tìm ra và được chấp nhận trên khắp thế giới, nhưng trước tiên chủ yếu là ở Đức, Ý, Pháp, Singapore và Brazil (Xanthakos et al.
Ở Nam Mỹ, ý tưởng về Jet-Grouting được dé cập lần dau tiên vào năm 1979, cho đến 1984 một số ít các dự án nhỏ sử dụng các hệ thống thi công phương pháp này. Cho đến năm 1987 thì Jet Grouting mới được dùng ở Mỹ. Vào cuối thập niên 80, một ý tưởng mới cho phương pháp Jet-Grouting, đó là dùng hai tia giao nhau để hạn chế khả năng cắt của tia v a áp lực cao — Crossjet Grouting. Đầu thập niên 90, phương pháp mới hơn về Jet-Grouting, Supperjet Grouting, có khả năng gia tăng đường kính cọc được phát triển.
Ở Trung Quốc áp dụng năm 1972, xây dựng kết cau tường chắn, 6n định hố đào cho nhà máy thép Baoshan, Thượng Hải. Đến năm 1990 công nghệ này áp dung công trình có quy mồ lớn như đập tam hiệp trên sông Duong Tử va Xiaolangdi trên sông Hoàng Hà va nh ng công trình ngầm của thành phố lớn như Thượng Hải, Bắc kinh, Quảng Châu và Trung Quốc cũng là nước áp dụng công nghệ này nhiều nhất trên thế giới.2 Ở Việt Nam Ở nước ta, Jet-grouting xuất hiện vào năm 1999 được áp dụng nhiều dự án nhưng công nghệ vẫn chưa có tiêu chuẩn ngành hướng dẫn và tài liệu khoa học về công nghệ nay cũng còn rat ít. Ở phía Nam, liên hiệp địa chất công trình - xây dựng và môi trường thuộc tong hội địa chất Việt Nam cũng đã tiến hành công nghệ này. Sau một thời gian thi công nghệ xáo trộn v a cao áp nh m để xử lý gia cố một số công trình tại TP HCM va một vai địa phương khác ở phía Nam.
Kiểm chứng cho thấy hiệu quả của công nghệ được áp dụng dé gia cố các bờ sông, kênh mương, hỗ móng sâu, mái dốc trượt lỡ, công trình ngầm, nên đường bộ.Tran Nguyễn Hoàng Hùng cùng nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài trong điểm cấp quốc gia, đã cải tiễn và thử nghiệm thành công cọc soilcrete b ng công nghệ Jet Grouting ở TP. HCM có đường k nh lên đến 1. Kết quả nghiên cứu này giúp củng cé lại tính thực tiễn công nghệ trong gia cô các công trình giao thông và xây dựng trong tương lai gần. Trong nh ng năm gan đây, công nghệ phụt v a áp lực cao đã sử dụng rộng rãi nhất là ở đồng b ng sông Cửu Long, thường là nh_ng thành phố lớn của Việt Nam như là TP.
HCM, Hà Nội. Tuy nhiên, đa số công nghệ mới này thường được công ty nước ngoài triển khai và chuyển giao công nghệ và cũng một phan dé Việt Nam từng bước phát triển các công nghệ phù hợp với các điều kiện đặc thù trong nước trên cơ sở kế thừa và cải tiến công nghệ mới đã có trên thế giới. Năm 2014, đáp ứng nhu câu thị trường về các công trình ngầm được khởi công xây dựng tại Việt Nam, FECON kết hợp với Tap đoàn Kanamoto và SODIC thành lập Công ty công trình ngầm FECON (FECON UCC). Ngay sau đó, FECON UCC hợp tác với Công ty Raito Kogyo Nhật Ban bat tay vào dự án HCM Metro line 1 Bến Thành - Suối Tiên với hạng mục gia cố các điểm đầu và cuối đường đào TBM.
Cuối năm 2015, dự án hoàn thành hạng mục gia cố tại khu vực tiếp nhận TBM (Arriving shaft). Đây là dự án đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng thành công công nghệ Jet Grouting ba pha đường kính lớn (khoan bơm v a cao áp) để thi công thành công cọc xi măng đất đường k nh lên đến 3,5m.2 Nguyên lý hoạt động:[3 |[4]{[5 ][6][14| Công nghệ Jet - groufing: Phương pháp khoan phụt cao áp là quá trình làm rời đất hoặc đá yếu trộn với hoặc thay thế một phân b ng tác nhân dính kết xi mang; Quá trình làm rời đạt được b ng một tia dung dich có năng lượng cao, trong đó bản thân dung dịch có thể là tác nhân dính kết xi măng. Trước tiên đưa cần khoan đến đáy cọc dự kiến thì dừng lại và bắt đầu v a bơm v a XM phụt ra thành tia ở đầu mũi khoan, vừa bơm v a vừa xoay can khoan rút lên. Tia nước và v a phun ra với áp suất cao (200 - 400 atm), vận tốc lớn (=100 m/s) làm cho các phan tử đất xung quanh lỗ khoan bị xói tơi ra, hòa trộn với v a phụt, sau đó đông cứng tạo thành một cọc (cột) đồng nhất.
Có 2 dạng phan tử thông dung là dang cọc và dang tâm. Một tổ hợp các phan tử khoan phut cao áp liên kết một phan hoặc toàn bộ với nhau. Các kết cầu thông dụng nhất là: + Màng: Có dạng như một bức tường (hình 1.3) + San: Có dạng một lớp n m ngang + Trần: Được tạo bởi các phan tử n m ngang + Khoi: Két câu ba chiêu Hình 1.3: Kết cầu dạng mang Hình 1.4: Kết cấu dạng tường cọc, vòm Theo lich sử phát triển, đã có 3 công nghệ đơn pha - S, hai pha - D và ba pha - T ra đời nh m đạt được mục tiêu tạo cọc có đường kính lớn hơn và chất lượng trộn đồng đều hơn. + Công nghệ don pha (Công nghệ S): Sử dụng cần khoan nòng đơn với đầu mũi chỉ có một lễ phun (nozzel).