Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 1. Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón lá Phân bón lá thường gồm 3 thành phần chính: các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng, ngoài ra còn có một số chất kích thích sinh trưởng. Vai trò của phân bón lá đối với cây trồng là tác động tổng hợp của từng nhóm các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng, chúng có vai trò quan trọng trong đời sống cây trồng.
Trong cây trồng luôn tồn tại các cơ chế điều chỉnh các quá trình sinh trưởng và phát triển nhằm thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống. Việc áp dụng biện pháp kỹ thuật bón phân trong từng giai đoạn là rất cần thiết vì cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng. Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết. Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun bón phân cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng.
Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, đặc biệt là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả. Cơ sở khoa học của việc sử dụng chất điều hòa sinh trưởng Chất điều hòa sinh trưởng tự nhiên là những hormon, chúng tồn tại tự nhiên trong cây trồng với hàm lượng rất nhỏ, chúng có khả năng di chuyển từ bộ phận này sang bộ phận khác của cây và có tác dụng điều hoà quá trình trao đổi chất. Các chất điều hòa sinh trưởng tự nhiên được chia thành 5 nhóm chính là nhóm Auxin, Gibberellin, Cytokinin, Absisic Acid và Etylen. Nhóm Auxin gồm các chất chính: Acid Indolacetic axit (IAA), (Naphtil acetic axit -NAA), (Naptilacetic - NAA) và Acid Indol butilic axit (IBA) có 4 tác dụng: Kích thích phân chia và kéo dài tế bào; Cần thiết cho sự hình thành rễ, kích thích ra rễ; Kích thích sự lớn lên của bầu quả.
Nhóm Gibberellin (GA) có hàng chục chất khác nhau, nhưng thông dụng nhất là từ GA1 đến GA5, trong đó GA3 có tác dụng mạnh nhất. Gibberellin có tác dụng kích thích sự phát triển của tế bào theo chiều dọc; Kích thích sự sinh trưởng và phát triển của cây theo chiều cao, làm thân vươn dài, giúp hình thành các chồi nách nhiều hơn; Làm mất hạt của quả, phá giai đoạn ngủ nghỉ của hạt để kích thích hạt nảy mầm; Tăng số lượng lá, thay đổi hình dạng và tăng diện tích của lá; Kìm hãm sự phát triển của bộ rễ; Kích thích ra hoa, kéo dài cuống hoa, giúp hoa to hơn. Tuy nhiên Gibberellin chỉ phát huy tốt tác dụng khi cây trồng có đầy đủ dinh dưỡng N, P, K. Hiện nay, con người đã điều chế ra các chất điều hòa sinh trưởng nhân tạo mang nhiều lợi ích cho trồng trọt như kích thích nảy mầm của hạt giống, kích thích ra rễ (giâm cành, chiết cành), kích thích sinh trưởng, kích thích ra hoa đậu quả, đến tạo quả không hạt, kích thích quá trình chín hay kéo dài thời gian chín của quả.
dùng Etylen để kích thích ra hoa ở dứa hay kích thích chảy mủ cao su. Ethrel hay Ethephon dùng trong việc kích thích ra hoa sớm, ra trái vụ ở xoài và cây ăn trái. Cây trồng nói chung và cam quýt nói riêng luôn tồn tại các cơ chế điều khiển các quá trình sinh trưởng và phát triển nhằm thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống. Chất điều hòa sinh trưởng chính là các chất điều tiết các cơ chế này và thông qua tác động của các chất điều hòa sinh trưởng phôi có thể hình thành phát triển thành quả không qua quá trình thụ phấn thụ tinh do vậy quả được tạo thành do tác động của các chất này thường không hạt hoặc ít hạt.
Các chất này được tổng hợp với một lượng rất nhỏ ở các cơ quan đến một bộ phận nhất định của cây, từ đó chuyển sang các bộ phận khác để điều tiết hoạt động sinh lý của cây. Trong chất điều hòa sinh trưởng có Gibberellin (GA3) và Naphthalene aceticd axit NAA được tổng hợp ở tất cả các 5 bộ phận còn non của cây và được vận chuyển không phân cực. Tác dụng sinh lý của GA3 là ảnh hưởng đến quá trình ra hoa, sự lớn lên của quả, tạo quả không hạt, ngăn cản sự rụng của các cơ quan như lá, hoa, quả, làm chậm quá trình già hóa của toàn cây và sự chín của quả, kích thích kéo dài thân, dóng, kích thích sự nảy mầm của hạt, củ. NAA có tác dụng kích thích cây trồng ra rễ, ra hoa đồng loạt, kết nhiều trái, trái có phẩm chất tốt, ngăn ngừa rụng trái non, cho sản lượng tốt.
Nguồn gốc và phân loại cam quýt 1. Nguồn gốc Cam quýt có lịch sử trồng trọt từ lâu đời sau cây nho trong các loài cây ăn quả. Đã có nhiều nghiên cứu về nguồn gốc của cam quýt, phần lớn đều nhất trí rằng cam quýt có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua Hymalaya, Trung Quốc, vùng quần đảo Philipine, Malaysia, miền Nam Indonesia hoặc kéo dài đến lục địa Úc. Những báo cáo gần đây nhận định rằng, tỉnh Vân Nam - Trung Quốc có thể là nơi khởi nguyên của nhiều loài cam quýt quan trọng, tại đây còn có nhiều loài cam quýt hoang dại (Tanaka, 1954).
Trước đây có vài bài báo cáo cho rằng loài chanh Yên (Citrus medica L.), phật thủ (Citrus medica Var. ), có thể có nguồn gốc ở Địa Trung Hải hoặc Bắc Phi. Nhưng hiện nay minh chứng được sáng tỏ, Citrs medica có nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc (Quyang Tao, 1990). Giống cam nổi tiếng thế giới “Washington Navel”, ở Việt Nam vẫn thường gọi là cam Navel được báo cáo là đang đột biến tự nhiên từ một giống cam ngọt, giống này được phát hiện ở Brazil, lần đầu tiên trồng ở Úc năm 1928, ở Frorida (Mỹ) năm 1983, ở California năm 1970 và nó rất nổi tiếng ở Washington (Swingle và Reece, 1967).Các giống bưởi (Citrus grandis) 6 được báo cáo có nguồn gốc ở Malaysia, Ấn Độ.
Một thuyền trưởng người Ấn Độ có tên là Shaddock đã mang giống bưởi này tới trồng ở Caribe, sau đó theo các thủy thủ, bưởi được giới thiệu ở Palestin vào năm 900 sau Công nguyên và ở châu Âu sau thời gian đó (Wakana, 1988). Bưởi chùm (Citrus paradisis) được xác định là dang đột biến hay dạng con lai tự nhiên ở bưởi, nó xuất hiện sớm nhất ở vùng Barbadas miền Tây Ấn Độ và được trồng lần đầu tiên ở Florida Mỹ năm 1809 và trở thành một trong những loại quả chất lượng cao ở châu Mỹ. Tóm lại, cam quýt có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, sự lan trải của cam quýt trên thế giới gắn liền với lịch sử buôn bán đường biển và các cuộc chiến tranh trước đây. Cam quýt được di chuyển đến châu Phi từ Ấn Độ bởi các thuyền buôn, di chuyển đến châu Mỹ bởi các nhà thám hiểm.
Tính trạng không hạt có vai trò rất quan trọng đối với sản xuất quả chất lượng cao ở cam, quýt, bưởi, chanh. Tính trạng có hạt và nhiều hạt làm giảm giá trị thương mại của công nghiệp chế biến quả có múi. Phân loại Cam quýt thuộc bộ cam quýt (Rutale), họ cam quýt (Rutaceae), được phân chia làm 130 giống (genera) với những đặc điểm chung như cây có bầu lọc nổi trên đài hoa, lá phần lớn có đỉnh hình răng cưa, quả thảo gồm hai hay nhiều noãn bên trong, 130 giống này nằm trong họ phụ khác nhau, trong đó họ phụ hoa hồng (Aurantirideae) là có ý nghĩa nhất. Sự phân loại chi tiết hơn dưới họ phụ Aurantirideae có tộc Citereae (28 giống) và tộc phụ Citrnae (13 giống), 3 nhóm: “tiền cam quýt”, “gần cam quýt”, và nhóm “cam quýt thật sự” (True Citrus group) được phân bố từ Citreace và tộc phụ Citrnae (Trần Như Ý và cs, 2000; Đỗ Đình Ca, 1996).
Sự phân loại cam quýt khá phức tạp vì có các yếu tố như: có rất nhiều giống (Cultivars) trong sản xuất và các dạng con lai của giống này (Hybrids), hiện tượng hạt đa phôi, đột biến và hiện tượng đa phôi cũng là những nhân tố gây khó khăn cho phân loại cam quýt. Hiện nay tồn tại hai hệ thống phân loại 7 cam quýt được nhiều người áp dụng, theo tanaka Nhật Bản (Phạm Văn Côn, 1997). Cam quýt gồm 100 đến 160 loài (Specias) khác nhau, Tanaka quan sát thực tiễn sản xuất và cho rằng các giống (Cultivars) cam quýt quả trong quá trình trồng trọt đã biến dị trở thành giống mới. Ông quan sát ghi chép tỉ mỉ đặc điểm hình thai của các giống đã biến dị này và phân chúng thành một loài mới hoặc giống mới có tên khoa học với tên khoa học được bắt đầu bằng tên giống hoặc loài đã sinh ra chúng và kết thúc bằng chữ Horticulture.
Tanaka, Swingle đã phân chia cam quýt ra thành 16 loài và các nhà khoa học vẫn dùng bảng phân loại của Tanaka để gọi tên các giống cam quýt vì bảng phân loại này chi tiết đến từng giống. Có 10 loài quan trọng nhất trong nhóm True Citrus group và nhóm con lai được liệt kê ở bảng biểu sau và một số nhóm con lai phổ biến, đây là những loài được trồng phổ biến và có ý nghĩa với đời sống con người, có thể được mô tả như sau: (Vũ Công Hậu, 1996; Trần Thế Tục và cs, 1988) Bảng 1. Các loài cam quýt thực sự có ý nghĩa trong sản xuất STT Tên loài Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt 1 C.sisnensis Osbereck Sweet Orange Cam ngọt 2 C.aurantium L Sour Orange Cam chua 3 C.reticulata Blanco Mandarin Quýt 4 C.limon Osbreck Lemon Chanh núm 5 C.medica L Citron Chanh yên 6 C.auraantifolia Swingle Lime Chanh vỏ mỏng 7 C.trifolia L Trioliate Chanh đắng 8 C.grandis L Shadock Bưởi 9 C.paradishi L Pomelo Bưởi chum 10 C.fortunenna Swingle Kumquat Quất 1. Yêu cầu ngoại cảnh của cam quýt 8 1.
Nhiệt độ Cam quýt có thể sống và phát triển được khoảng nhiệt độ từ 13 - 38 oC, thích hợp nhất là từ 23 - 29 oC. Dưới 13 oC và trên 42 oC thì sự sinh trưởng ngừng lại, dưới (- 5) oC thì chết. Tuy nhiên hiện nay người ta đã chọn được những giống chịu lạnh tốt như cam mật Ôn Châu, cam Washington Navel dưới (-11) - (-12) oC cây mới chết, do đó các giống này có thể trồng được ở vĩ độ cao, hoặc dùng giống kháng lạnh như Poncirus trifoliata để làm gốc ghép (Trần Thế Tục, 1980).