đặt vấn đề rằng để diệt trừ hết mối ở rừng là không tưởng, vấn đề ở chỗ chỉ xác định mục tiêu hạn chế mức độ phá hoại của mối đối với cây trồng, bởi mối còn có vai trò quan trọng trong chu trình vật chất, chuyển hoá tàn dư thực vật trả lại độ mùn cho đất. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 1.Tình hình nghiên cứu khu hệ mối, đặc điểm sinh học, sinh thái học của mối Nghiên cứu sớm nhất về mối ở Việt Nam được ghi nhận là công trình của Bathellier (1927) [25]. Ông đã mô tả hình thái và một số đặc điểm sinh học, đồng thời chụp ảnh 19 loài mối ở Đông Dương, trong đó có 17 loài có mặt tại Việt Nam. Cũng trong nghiên cứu này, ông công bố hai loài Macrotermes gilvus ở Nha Trang, Sài Gòn và Macrotermes maesodensis ở Langbian (Nam Bộ) còn ở miền Bắc Việt Nam mới chỉ tìm thấy 4 loài và không có loài nào thuộc giống Macrotermes.
Harris (1968) [30] đã nghiên cứu 21 điểm ở Việt Nam, tìm thêm 2 loài M. carbonarius ở Ban Mê Thuột, Côn Đảo và M. maesodensis ở biên giới của Hà Tiên với Campuchia. Năm 1972, Patrick Durant và Lâm Bỉnh Lợi viết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 cuốn "Les termites du Vietnam", đề cập tới hình thái phân loại và đặc điểm sinh học của một số loài mối có ở Việt Nam.
Khi tổng kết về mối ở miền Bắc Việt Nam, bên cạnh thành phần loài, Nguyễn Đức Khảm (1976) cũng nêu được một số nét khái quát về địa lý động vật học của khu hệ mối ở miền Bắc Việt Nam trong vùng động vật Đông Phương, đồng thời cũng mô tả được các đặc điểm sinh học, sinh thái học của 61 loài mối thu được; trong đó có 3 loài mối gây nguy hiểm cho đê hạ nguồn được giới thiệu một số nét chính về cấu trúc tổ và tập tính kiếm ăn [7]. Nguyễn Đức Khảm và Vũ Văn Tuyển (1985) [8] đã viết cuốn “Mối và kỹ thuật phòng chống mối”, giới thiệu các đặc điểm sinh học của mối, mô tả khá đầy đủ và chuẩn hóa các phương pháp phòng chống mối cho công trình xây dựng. Nguyễn Tân Vương (1997) [18] đã công bố kết quả điều tra giống Macrotermes tại miền nam Việt Nam với 14 loài, trong đó có 4 loài lần dầu tiên phát hiện cho khu vực nghiên cứu, 3 loài trong số đó là các loài mới phát hiện cho khoa học. Tác giả đã đưa ra nhận xét về sự phân bố của mối Macrotermes theo các nhóm sinh cảnh tự nhiên, sinh cảnh cây trồng, đập và công trình xây dựng, đặc điểm phân bố trong môi trường đất và ảnh hưởng hoạt động canh tác của con người tới sự phân bố của mối Macrotermes.
Khi điều tra về thành phần loài và phân bố của mối ở Lâm Đồng, Lê Văn Triển và cộng sự (1998) [16] đã phát hiện thêm 8 loài mối lần đầu gặp ở miền nam Việt Nam: Coptotermes formosanus, C. travians, Termes comis, T. laticomis, Macrotermes annandalei, M. tuyeni, Odontotermes javanicus.
Kết quả nghiên cứu này đã đóng góp đáng kể vào sự đa dạng mối ở Việt Nam nói chung và khu vực nói riêng. Thành phần loài mối ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên cũng được quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây. Nhiều công trình LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 được công bố đã đóng góp thêm cho sự đầy đủ về danh sách thành phần loài của khu hệ mối Việt Nam như Bùi Công Hiển và cộng sự điều tra về phần loài tại vườn quốc gia Ba Vì, Hà Tây (2003) [4], Nguyễn Văn Quảng đã trích đăng kết quả điều tra về thành phần loài mối tại vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, A Lưới, Thừa Thiên Huế (2004) [12], khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông - Quảng Trị (2005) [13]. Nguyễn Văn Quảng và cộng sự (2006) [40] khi nghiên cứu về thành phần loài mối Vườn Quốc gia Cát Tiên và khu vực Mã Đà, đã ghi nhận có 70 loài thuộc 2 họ, 20 giống.
Lần đầu tiên ở Vườn Quốc gia Cát Tiên có 51 loài được phát hiện; ở Mã Đà trong số 47 loài có 17 loài bổ sung thêm. Các tác giả tính toán độ thường gặp chung của các loài mối, kết quả cho thấy giá trị về độ thường gặp ở sinh cảnh rừng nguyên sinh cao hơn ở sinh cảnh rừng thứ sinh, nhất là đôi với các rừng bị ảnh hưởng mạnh bởi sự can thiệp của con người. Nguyễn Thị My và cộng sự (2007) [10] đã điều tra thành phần loài mối tại vườn quốc gia Bạch Mã, Thừa Thiên Huế, phát hiện được 62 loài thuộc 21 giống, 8 phân họ của 3 họ; trong số này có 13 loài lần đầu tiên bổ sung cho khu hệ mối Việt Nam, 4 loài mối có ý nghĩa về chỉ thị sinh học đã được mổ tả về hình thái và đặc điểm sinh học. Nguyễn Đức Khảm và cộng sự (2007) [9] đã đóng góp phần chuyên đề về mối trong cuốn “Động vật chí Việt Nam”.
Tài liệu này đã thống kê, miêu tả các đặc điểm phân loài học và phân bố của 101 loài mối ở Việt Nam; xây dựng khóa định loài đầy đủ cho khu hệ mối Việt Nam. Mặc dù nghiên cứu về phân loại học cùng các đặc điểm sinh học, sinh thái học của mối được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam, nhưng cho đến nay vẫn chưa có những công trình đầy đủ và toàn diện ở các khu vực như các vườn quốc gia, các vùng, phân vùng địa lý khí hậu. Vấn đề này rất quan trọng, không chỉ đối với khoa học, mà còn có ý nghĩa thực tiễn lớn, khi những tác hại do mối gây ra ngày càng nghiêm trọng hơn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Tình hình nghiên cứu về mối hại cây trồng Nước ta nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới, nên thành phần loài mối rất phong phú.Tuy nhiên, các dẫn liệu về mối hại cây trồng còn ít. Thành phần về mối hại cây trồng đã được Nguyễn Đức Khảm (1975) công bố hơn 10 loài mối hại cây trồng ở miềnbắc. Nguyễn Đức Khảm (1976) [7], khi điều tra thành phần mối ở miền Bắc Việt Nam cho rằng, cùng với các nhóm mối có vườn cấy nấm khác, mối Macrotermes có thể gây hại cho nhiều loại cây trồng như bạch đàn, trám trắng, cao su, chè, mía, sắn. Trong báo cáo khoa học Hội nghị côn trùng học toàn quốc năm 2002, Nguyễn Văn Quảng và cộng sự đã công bố danh sách các loài mối hiện có ở cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam gồm 4 họ lớn (Kalotermitidae, Hodotermitidae, Rhinotermitidae và Termitidae), 3 họ phụ (Amitermitinae, Nasutitermitinae và Termitinae), 32 giống gồm 109 loài [11].
Mối hại cây trồng nước ta có khoảng 27 loài chia làm 3 nhóm chính: Mối gỗ khô, mối gỗ ẩm và mối đất, trong đó nhóm mối đất gây hại nhiều nhất. Họ mối đất có nhiều giống, trong đó 3 giống Macrotermes, Odontotermesvà Microtermesgây hại cây trồng chủ yếu (Nguyễn Văn Quảng, 1999) [11]. Khi nghiên cứu về mối hại cây cà phê ở Lâm Đồng, Vũ Văn Tuyển (1991) [17] công bố có 6 loài mối hại cây cà phê. Trong các tài liệu này ông đã mô tả các ảnh hưởng của mối đối với cây và cho rằng những cây bị mối hại cho quả ít, hạt nhỏ nhưng chưa có số liệu thống kê cụ thể, Nguyễn Tân Vương và cộng sự(2007) [19] đã điều tra mối trong sinh cảnh trồng cây công nghiệp ở các tỉnh Tây Nguyên và đã xác định có 48 loài, trong đó 5 loài mối gây hại chính cho cây ca cao, cà phê và cao su [19].
Nghiên cứu điều tra về mối hại bạch đàn, keo đã được một số tác giả tiến hành. Nguyễn Văn Bích (1995) [1] tiến hành điều tra tình hình sâu bệnh hại rừng trồng ở Việt Nam trên 8 vùng lớn của toàn quốc là Đông Bắc, Trung LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Tâm, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Nam Bộ. Báo cáo kết quả điều tra cho biết đối với rừng trồng Bạch đàn có 78 loài sâu hại thuộc 6 bộ, 21 họ và rừng trồng keo có 51 loài sâu hại thuộc 7 bộ, 19 họ. Trong đó, giống mối đất Odontotermes được đánh giá là trong số các loài gây hại thành dịch.
Hà Văn Hoạch (1995) [5], đã điều tra sâu bệnh hại rừng trồng vùng Đông Bắc. Tác giả cho biết các loài cây được trồng thành rừng chủ yếu là thông, bạch đàn và keo. Đối với rừng trồng bạch đàn, số loài côn trùng hại rừng bạch đàn có 30 loài thuộc 5 bộ và 13 họ. Tác giả ghi nhận mối gây hại cây bạch đàn bằng cách ăn rễ làm chết cây.
Đối với rừng keo, côn trùng hại keo có 25 loài thuôc 5 bộ và 14 họ. Trong đó, mối Odontotermes gây hại rễ keo tai tượng ở tuổi 1- 3 làm chết cây. Bùi Thị Thuỷ (2007) khi nghiên cứu về mối hại cây con lâm nghiệp, đã xác định được các loài mối hại cây con lâm nghiệp chủ yếu ở Trạm thực nghiệm Cẩm Quỳ và Trạm Đá Chông - Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng tại Ba Vì, gồm nhiều loài thuộc 2 giống Odontotermes và Macrotermes thuộc họ mối đất (Termitidae). Chúng gây hại chủ yếu đối với thông, bạch đàn và keo, trong đó thông bị chúng gây hại làm chết hàng loạt cây con ở vườn ươm và rừng mới trồng [14].
Theo thống kê, hầu hết các nơi trồng bạch đàn ở Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang, Hoà Bình, Bắc Giang, Thanh Hoá và Nghệ An đều bị mối phá hại. Sở khoa học công nghệ Tuyên Quang (2007), Công ty Lâm nghiệp Đông Bắc (2007) đưa ra số liệu mối hại rừng trồng bạch đàn, keo lai dưới 12 tháng tuổi, tỷ lệ cây chết trung bình 20 - 30%, có nơi tới 100%. Số liệu ở một số cơ sở trồng rừng của tỉnh Hoà Bình cho biết tỷ lệ gây chết của mối đối với cây bạch đàn và keo là 30-40%, mặc dù các nhà lâm học đã sử dụng nhiều biện pháp phòng trừ mối. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 Đối với cây trồng lâm nghiệp, mối là một trong các nhóm côn trùng gây hại lớn đối với rừng trồng bạch đàn và keo.
Ở Việt Nam, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về mối gây hại bạch đàn và keo. Hầu hết các địa phương trồng bạch đàn và keo trong cả nước đều ghi nhận sự phá hại của mối với các mức độ khác nhau. Do đó, cần phải nghiên cứu về thành phần loài dựa trên việc thu thập mẫu, phương pháp phân loại chính xác, đánh giá mức độ gây hại của từng loài đối với bạch đàn và keo nhằm xác định rõ đối tượng gây hại chính cần phòng trừ.