Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Mối (Isoptera) là nhóm côn trùng xã hội có sức tàn phá nghiêm trọng đối với các công trình xây dựng, công trình thủy lợi, đê điều, hồ chứa nước, cũng như các vật dụng bằng gỗ, tài liệu lưu trữ và cây trồng nông - lâm nghiệp. Bên cạnh việc phá hủy cấu trúc vật liệu, sự hoạt động của đàn mối tại các vị trí ẩm thấp trong nhà còn phát tán bụi và bào tử nấm mốc vào không khí, tiềm ẩn nguy cơ gây dị ứng đường hô hấp cho con người. Trong thực tiễn phòng trừ mối, các phương pháp hóa học truyền thống tuy đem lại hiệu quả nhanh nhưng để lại lượng tồn dư hóa chất độc hại lớn, gây ô nhiễm môi trường đất, nước và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng. Các biện pháp sinh học hoặc sử dụng tinh dầu thiên nhiên nguyên chất đã được quan tâm nhưng còn tồn tại nhược điểm như thời gian tác động chậm, dễ bị rửa trôi hoặc tinh dầu có độ bay hơi cao làm giảm hiệu lực kéo dài.

Song song đó, Việt Nam là một trong những quốc gia chế biến và xuất khẩu hạt điều hàng đầu thế giới. Ngành công nghiệp chế biến hạt điều phát sinh hàng năm ước tính khoảng 240.000 tấn vỏ điều phế thải. Sau quá trình ép lấy dầu vỏ hạt điều thương phẩm (CNSL), phần bã thải còn lại vẫn chứa từ 10% đến 20% lượng dầu dư thừa. Nguồn phụ phẩm này hiện chủ yếu được dùng làm chất đốt lò hơi giá rẻ với nhiệt lượng khoảng 4800 Kcal/kg, gây lãng phí nguồn hợp chất tự nhiên có giá trị cao và tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm khí thải. Trong thành phần dầu vỏ hạt điều chứa hàm lượng lớn các hợp chất polyphenol tự nhiên, đặc biệt là acid anacardic – hoạt chất đã được chứng minh có khả năng ức chế nhiều loại enzyme quan trọng ở côn trùng. Việc nghiên cứu tận dụng bã vỏ hạt điều để tạo chế phẩm sinh học diệt mối là hướng tiếp cận cần thiết nhằm gia tăng giá trị chuỗi sản phẩm từ cây điều và cung cấp giải pháp bảo vệ công trình thân thiện với môi trường.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể theo 3 nội dung:

  1. Khảo sát thành phần hóa học của cao trích điều chế từ nguồn phụ phẩm bã vỏ hạt điều bằng các phương pháp phân tích hóa học và công cụ phổ nghiệm.
  2. Xác định các chỉ tiêu hóa lý (tỷ trọng, độ nhớt, chỉ số acid, pH) của các mẫu cao trích thu được theo Tiêu chuẩn Việt Nam.
  3. Phối chế cao trích với tinh dầu thiên nhiên để tạo chế phẩm sinh học dạng xịt và đánh giá thực nghiệm hiệu lực diệt mối nhằm xác định công thức tối ưu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nguồn bã vỏ hạt điều (Anacardium occidentale L.) sau công đoạn ép dầu; các phân đoạn cao chiết trích ly từ bã điều; hai loại tinh dầu thiên nhiên (tinh dầu đinh hương, tinh dầu lavender/ylavender); các cá thể mối (Isoptera) thu thập ngoài tự nhiên.
  • Phạm vi không gian: Nguyên liệu bã vỏ hạt điều được thu thập tại cơ sở sản xuất dầu điều Tấn Lộc, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Các thực nghiệm trích ly, phân tích hóa lý, định lượng polyphenol, đo phổ FT-IR, đo GC-MS và khảo nghiệm diệt mối được thực hiện tại hệ thống phòng thí nghiệm thuộc Khoa Công nghệ Hóa học và Thực phẩm – Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh. Phép phân tích phổ LC-MS được thực hiện tại Viện Kỹ thuật Nhiệt đới và Bảo vệ Môi trường TP. Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Mẫu bã điều được thu thập vào tháng 02 năm 2022; toàn bộ nghiên cứu thực nghiệm và hoàn thiện khóa luận được thực hiện đến tháng 08 năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu dựa trên các đặc tính hóa học của dầu vỏ hạt điều (Cashew Nut Shell Liquid - CNSL) và cơ chế tác động sinh học của các dẫn xuất alkylphenol lên côn trùng:

  • Hệ hợp chất phenolic trong vỏ hạt điều: Dầu vỏ hạt điều tự nhiên chứa 4 hợp chất chính thuộc nhóm alkylphenol gồm acid anacardic (~82%), cardol (~13,8%), 2-methylcardol (~2,6%) và cardanol (~1,6%). Acid anacardic ($C_{22}H_{31}O_3$, phân tử lượng 342,47 g/mol) là một acid salicylic thế chuỗi alkyl 15C hoặc 17C không bão hòa. Nhờ cấu trúc lưỡng cực gồm phần ưa nước mang nhóm -OH, -COOH gắn trên nhân thơm và phần kỵ nước là mạch hydrocarbon dài, acid anacardic có khả năng thâm nhập, phá vỡ cấu trúc màng phospholipid tế bào của côn trùng và ức chế các enzyme thiết yếu như Tyrosinase (ảnh hưởng quá trình biến thái), Lipoxygenase và Prostaglandin endoperoxidase synthase.
  • Hiệp đồng tác dụng với tinh dầu: Eugenol có trong tinh dầu đinh hương (Syzygium aromaticum) và các hợp chất terpenoid trong tinh dầu lavender (Lavandula latifolia) có tính xua đuổi, gây độc thần kinh và hỗ trợ thẩm thấu, khi kết hợp với acid anacardic giúp tăng tốc độ làm chết mối và khử bớt mùi hăng nồng đặc trưng của dầu điều thô.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và tiêu chuẩn phân tích bao gồm:

  • Phương pháp xử lý và trích ly nguyên liệu: Bã hạt điều được loại bỏ tạp chất, xay nhỏ về kích thước 7 - 10 mm. Quá trình trích ly áp dụng phương pháp ngâm kiệt kết hợp hỗ trợ sóng siêu âm (sử dụng bể rung siêu âm Elma Ultrasonic units) với tỷ lệ dung môi : bã điều là 3:1 (w/v). Khảo sát 3 hệ dung môi có độ phân cực khác nhau: n-hexane (thu mẫu cao HE-BD), acetone (thu mẫu cao AE-BD) và ethanol 70% (thu mẫu cao EE-BD). Hỗn hợp sau đánh siêu âm 30 phút được ngâm dầm trong bình tối màu 48 giờ/lần (ngâm 3 lần), lọc lấy dịch trong, thu hồi dung môi bằng hệ thống cô quay chân không Yamamoto ở 50°C, 90 vòng/phút và sấy hoàn nguyên ở 50°C.
  • Phương pháp xác định độ ẩm: Căn cứ theo tiêu chuẩn TCVN 8900-2:2012, sấy mẫu ở 105°C đến khối lượng không đổi.
  • Phương pháp định tính nhóm chức: Sử dụng các phản ứng màu hóa học đặc trưng để xác định sự có mặt của polyphenol, flavonoid, coumarin, acid hữu cơ, caroten; kết hợp phân tích các dải hấp thụ dao động đặc trưng trên phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FT-IR) bằng máy quang phổ Jasco.
  • Phương pháp định tính và nhận danh thành phần: Sử dụng phương pháp sắc ký lỏng ghép khối phổ (LC-MS trên thiết bị Agilent 1900) và sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS trên thiết bị QP2020 NX, Shimadzu).
  • Phương pháp định lượng tổng hàm lượng polyphenol (TPC): Thực hiện theo tiêu chuẩn TCVN 9745-1:2013 bằng phương pháp so màu Folin-Ciocalteu trên máy quang phổ hấp thụ phân tử UV-Vis Dynamica tại bước sóng cực đại, biểu thị kết quả qua lượng đương lượng acid gallic trên gam mẫu khô (mg GAE/g).
  • Phương pháp xác định các chỉ tiêu hóa lý: Đo tỷ trọng bằng bình đo tỷ trọng; xác định độ nhớt bằng nhớt kế mao quản Ostwald; đo pH bằng máy Seven easy pH; xác định chỉ số acid (mg KOH/g) bằng phương pháp chuẩn độ thể tích theo tiêu chuẩn kỹ thuật.
  • Phương pháp đánh giá hiệu lực diệt mối: Thử nghiệm tiếp xúc trực tiếp bằng cách phun các công thức chế phẩm (thay đổi loại cao, nồng độ phối trộn 1% - 5% và loại tinh dầu đinh hương/lavender) lên các nhóm mối thử nghiệm; ghi nhận thời gian làm mối chết hoàn toàn (tỷ lệ tử vong 100%) bằng thiết bị bấm giờ tiêu chuẩn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến đối tượng nghiên cứu. Về mặt sinh học, mối (Isoptera) được phân loại thuộc bộ Blattodea với cấu trúc xã hội gồm mối chúa, mối vua, mối lính và mối thợ; trong đó mối thợ chiếm số lượng đông nhất và trực tiếp đảm nhận việc phá hoại xenluloza. Tác giả phân tích so sánh ưu và nhược điểm của 4 phương pháp phòng trừ mối hiện hành:

Phương pháp diệt mối Cách thức thực hiện chính Ưu điểm Nhược điểm
Dân gian Dùng dầu hỏa, cồn 90°, ánh sáng đèn, ngâm gỗ dưới nước. Dễ làm, chi phí thấp, không đòi hỏi kỹ thuật cao. Hiệu quả thấp, không diệt được tổ mối ngầm hoặc mối xông diện rộng.
Hóa chất trực tiếp Phun/tẩm hóa chất (PMS 100, Termidor, Mapboxer 30EC...). Tiêu diệt nhanh, hiệu quả tức thì trên diện rộng. Độc hại cho sức khỏe con người, tồn dư lâu dài gây ô nhiễm đất và nước.
Sinh học công nghệ mới Dùng chế phẩm sinh học kết hợp hộp nhử để lây nhiễm về tổ. Hiệu quả tận gốc, an toàn cho người và gia súc, không đục phá. Tác động chậm, dễ bị nước cuốn trôi, phụ thuộc nhiệt độ môi trường.
Tinh dầu thiên nhiên Bơm/xịt tinh dầu cam, đinh hương, sả chanh vào đường mui, tổ. Lành tính, an toàn, có mùi thơm dễ chịu. Tinh dầu bay hơi nhanh, cần thời gian tác động dài, chi phí tương đối cao.

Về cây điều, chương này phân tích phân bố địa lý (vùng Đông Nam Bộ chiếm ~70% diện tích cả nước, riêng Bình Dương có 773 ha năm 2020), cấu tạo giải phẫu hạt điều (vỏ hạt chiếm ~70% khối lượng hạt, trong đó lớp vỏ giữa chiếm 30% trọng lượng vỏ và là nơi tích tụ dầu). Tổng quan hóa học làm rõ cấu trúc 4 hợp chất alkylphenol chủ yếu của dầu vỏ hạt điều gồm acid anacardic, cardol, cardanol và 2-methylcardol, cùng cơ chế phá vỡ màng tế bào và ức chế enzyme Tyrosinase. Tác giả cũng chỉ ra thực trạng hơn 240.000 tấn bã vỏ hạt điều thải ra mỗi năm sau khi ép dầu chỉ được đốt lò hơi (nhiệt lượng 4800 Kcal/kg), từ đó khẳng định tính cấp thiết của việc phát triển chế phẩm sinh học chống mối từ bã điều.

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết toàn bộ quy trình thực nghiệm, từ thu thập mẫu nguyên liệu bã vỏ hạt điều tại cơ sở Tấn Lộc (Đồng Nai) đến các bước chuẩn bị hóa chất (acid gallic 98%, thuốc thử Folin-Ciocalteu, ethanol, acetone, n-hexane, tinh dầu đinh hương Ấn Độ, tinh dầu Ylavender) và hệ thống máy móc (bể rung siêu âm Elma, cô quay chân không Yamamoto, máy UV-Vis Dynamica, máy đo FT-IR Jasco, máy GC-MS Shimadzu, máy LC-MS Agilent 1900, nhớt kế Ostwald).

Quy trình công nghệ điều chế 3 mẫu cao được chuẩn hóa: bã hạt điều sau khi nghiền nhỏ (7 - 10 mm) được trích ly hỗ trợ siêu âm trong 30 phút với tỷ lệ dung môi 3:1, tiếp tục ngâm dầm 48 giờ x 3 lần. Dịch chiết sau lọc được cô quay chân không tại 50°C và sấy đuổi dung môi ở 50°C. Chương này cũng thiết lập chi tiết các công thức tính toán:

  • Công thức tính độ ẩm mẫu nguyên liệu theo khối lượng trước và sau sấy ($w_1, w_2$).
  • Công thức tính hiệu suất thu hồi cao trích ($H% = \frac{m_{\text{cao}}}{m_{\text{mẫu}}} \times 100%$).
  • Quy trình đo TPC theo TCVN 9745-1:2013 và quy trình xác định 4 chỉ tiêu hóa lý (tỷ trọng, độ nhớt, chỉ số acid, pH) của cao điều.
  • Bố trí thí nghiệm đánh giá hiệu lực sinh học: thử nghiệm khả năng gây chết mối của từng phân đoạn cao riêng lẻ, phối chế cao với tinh dầu (đinh hương, lavender) ở các tỷ lệ nồng độ khác nhau nhằm tìm ra công thức làm chết 100% mối trong thời gian ngắn nhất.

Chương 3: Kết quả và bàn luận

Chương 3 trình bày các số liệu thực nghiệm thu được từ quá trình nghiên cứu:

  1. Hiệu suất trích ly và độ ẩm: Khảo sát độ ẩm nguyên liệu bã hạt điều ban đầu đạt tiêu chuẩn xử lý trích ly. Quá trình chiết xuất với 3 dung môi cho thấy sự khác biệt rõ rệt về hiệu suất thu hồi cao: dung môi ethanol 70% cho hiệu suất trích ly cao nhất, tiếp theo là acetone và thấp nhất là n-hexane.

  2. Hàm lượng tổng polyphenol (TPC): Định lượng TPC theo phương pháp Folin-Ciocalteu xác nhận mẫu chiết bằng ethanol 70% có khả năng hòa tan polyphenol tốt nhất:

Ký hiệu mẫu Dung môi trích ly Tổng hàm lượng polyphenol (mg GAE/g mẫu khô)
HE-BD n-Hexane 45,53
AE-BD Acetone 103,73
EE-BD Ethanol 70% 148,93
  1. Phân tích định tính và nhận danh cấu trúc:
  • Kết quả định tính hóa học xác nhận sự hiện diện rõ nét của nhóm polyphenol và acid hữu cơ trong cả 3 mẫu cao, trong khi flavonoid, coumarin và caroten xuất hiện ở mức độ vết hoặc âm tính tùy phân đoạn.
  • Phổ hồng ngoại FT-IR của 3 mẫu cao cho thấy các đỉnh hấp thụ đặc trưng: dải rộng ở số sóng ~3300 - 3400 cm⁻¹ tương ứng với dao động kéo dãn liên kết O-H của nhóm phenol; các mũi hấp thụ ở ~2850 - 2920 cm⁻¹ đặc trưng cho dao động C-H béo của mạch alkyl; dải hấp thụ ở ~1700 - 1710 cm⁻¹ thể hiện nhóm cacbonyl C=O của acid anacardic; các mũi ở ~1600 cm⁻¹ và ~1450 cm⁻¹ thuộc về dao động khung vòng thơm benzene.
  • Phân tích sắc ký LC-MS và GC-MS đã định danh thành công các cấu tử chính trong cao bã điều gồm: acid anacardic, cardol và cardanol. Trong mẫu tinh dầu đinh hương phối trộn, hợp chất eugenol được nhận danh là thành phần hoạt chất chủ đạo.
  1. Chỉ tiêu hóa lý của cao bã vỏ hạt điều: Các chỉ tiêu hóa lý xác định được của các mẫu cao trích:
  • Tỷ trọng: dao động trong khoảng 0,96 - 0,99.
  • Độ nhớt: dao động trong khoảng 812 - 831 cP.
  • Chỉ số acid: dao động trong khoảng 150 - 172 mg KOH/g.
  • Độ pH: dao động trong khoảng 4,0 - 4,5.
  • Trạng thái cảm quan: chất lỏng đặc sệt, màu nâu đen, có mùi đặc trưng của dầu điều.
  1. Hiệu lực diệt mối của các chế phẩm:
  • Khi thử nghiệm đơn lẻ từng loại cao trích hoặc từng loại tinh dầu, thời gian để tiêu diệt hoàn toàn 100% mối kéo dài đáng kể.
  • Khi phối trộn cao trích với tinh dầu, khả năng diệt mối tăng rõ rệt nhờ hiệu ứng hiệp đồng giữa acid anacardic và eugenol. Trong đó, công thức kết hợp giữa cao chiết ethanol (EE) và tinh dầu đinh hương (ĐH) thể hiện hiệu lực vượt trội so với các công thức chứa cao hexane, cao acetone hoặc tinh dầu lavender.
  • Khảo sát nồng độ tối ưu: Khảo sát ảnh hưởng nồng độ cao EE phối hợp với tinh dầu đinh hương 1% cho thấy công thức cao bã vỏ hạt điều chiết xuất ethanol 4% (EE 4%) + tinh dầu đinh hương 1% (ĐH 1%) mang lại thời gian làm chết 100% cá thể mối nhanh nhất.
  • Đánh giá cảm quan chế phẩm tối ưu: Chế phẩm dạng lỏng, có màu vàng nhạt, mùi thơm nồng ấm nhẹ của đinh hương giúp khử hoàn toàn mùi khó chịu của bã điều, độ đồng nhất cao và thuận tiện khi sử dụng qua bình xịt trực tiếp.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã thu được các kết quả cụ thể sau:

  • Thông số trích ly và hoạt chất: Xác định được dung môi ethanol 70% là môi trường tối ưu để trích ly hoạt chất từ bã vỏ hạt điều với hàm lượng polyphenol tổng đạt 148,93 mg GAE/g, cao hơn đáng kể so với dung môi acetone (103,73 mg GAE/g) và n-hexane (45,53 mg GAE/g).
  • Định danh thành phần: Bằng phổ nghiệm FT-IR kết hợp LC-MS và GC-MS, tác giả đã định danh được các hợp chất phenol tự nhiên chủ đạo trong bã điều gồm acid anacardic, cardol, cardanol và eugenol trong tinh dầu đinh hương.
  • Xác lập bộ chỉ tiêu hóa lý: Cao bã điều có tỷ trọng 0,96 - 0,99; độ nhớt 812 - 831 cP; chỉ số acid 150 - 172 mg KOH/g; pH 4,0 - 4,5.
  • Xây dựng công thức chế phẩm sinh học diệt mối tối ưu: Chế phẩm chứa 4% cao bã vỏ hạt điều chiết bằng ethanol 70% kết hợp 1% tinh dầu đinh hương đạt hiệu lực gây chết 100% mối thử nghiệm tối ưu, sản phẩm có màu vàng nhạt, mùi thơm nhẹ dễ chịu, sử dụng cơ chế xịt tiếp xúc trực tiếp.

Đóng góp của khóa luận:

  • Đây là công trình thực nghiệm đầu tiên nghiên cứu sử dụng nguồn phế phẩm bã vỏ hạt điều (sau công đoạn ép dầu) để điều chế chế phẩm sinh học phòng trừ mối (Isoptera).
  • Chứng minh thành công tính khả thi của việc phối trộn hợp chất acid anacardic tự nhiên từ bã hạt điều với eugenol từ tinh dầu đinh hương, mở ra giải pháp công nghệ tận dụng phụ phẩm nông nghiệp tạo sản phẩm xanh thay thế thuốc diệt mối hóa học độc hại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Các thí nghiệm đánh giá hiệu lực diệt mối mới chỉ thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm trên các nhóm mối thu thập tự nhiên, chưa tiến hành thử nghiệm thực địa dài ngày trên các công trình xây dựng hoặc đê điều thực tế.
  • Khóa luận chưa khảo sát độ ổn định hóa lý và hạn sử dụng của chế phẩm sinh học (độ phân lớp, biến tính hoạt chất theo thời gian và nhiệt độ bảo quản).

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng khảo nghiệm hiệu lực diệt mối trên nhiều loài mối phổ biến khác nhau tại Việt Nam (như Coptotermes formosanus, Macrotermes annandalei, Odontotermes hainanensis).
  • Nghiên cứu bổ sung các chất hoạt động bề mặt sinh học hoặc chất nhũ hóa thân thiện nhằm tăng độ bám dính và độ bền lưu giữ của chế phẩm trên bề mặt gỗ và đất.
  • Khảo sát quy trình nâng quy mô bán công nghiệp (pilot) để đánh giá chi phí sản xuất và tính khả thi kinh tế - kỹ thuật.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Công nghệ Kỹ thuật Hóa học, Công nghệ Thực phẩm, Công nghệ Sinh học và Bảo vệ Thực vật quan tâm đến lĩnh vực trích ly các hợp chất tự nhiên và phối chế nông dược sinh học.
  • Các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp chế biến hạt điều muốn tìm kiếm giải pháp gia tăng giá trị chuỗi sản phẩm thông qua việc tái sử dụng bã thải ép dầu.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất bao gồm: quy trình công nghệ trích ly hỗ trợ sóng siêu âm; dữ liệu phổ FT-IR, LC-MS, GC-MS nhận danh acid anacardic; phương pháp định lượng TPC theo TCVN 9745-1:2013 và phương pháp phối chế, đánh giá hoạt tính trừ côn trùng bằng thử nghiệm sinh học.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao mẫu cao chiết bằng ethanol 70% (EE-BD) lại cho hàm lượng polyphenol cao nhất so với n-hexane và acetone?
Do các hợp chất polyphenol trong bã vỏ hạt điều (đặc biệt là acid anacardic mang nhóm phân cực -OH và -COOH) có độ phân cực trung bình đến cao, phù hợp với hằng số điện môi của hỗn hợp dung môi ethanol - nước (ethanol 70%), trong khi n-hexane là dung môi không phân cực chỉ hòa tan tốt các lipid trung tính, còn acetone có độ phân cực kém hơn hệ ethanol - nước đối với các polyphenol liên kết. Thực nghiệm đo TPC chứng minh EE-BD đạt 148,93 mg GAE/g, vượt trội so với AE-BD (103,73 mg GAE/g) và HE-BD (45,53 mg GAE/g).

2. Thành phần hóa học chính có hoạt tính diệt mối trong bã vỏ hạt điều là gì và cơ chế tác động ra sao?
Thành phần chính gồm acid anacardic, cardol và cardanol. Trong đó, acid anacardic chiếm tỷ lệ cao nhất và có hoạt tính mạnh nhất. Nhờ cấu trúc phân tử lưỡng cực, acid anacardic thâm nhập và làm biến tính màng phospholipid tế bào côn trùng, đồng thời ức chế các enzyme then chốt như Tyrosinase (enzyme điều hòa quá trình lột xác và biến thái), Lipoxygenase và Prostaglandin endoperoxidase synthase, dẫn đến sự rối loạn chuyển hóa và làm chết mối.

3. Tinh dầu đinh hương đóng vai trò gì khi phối trộn cùng cao bã hạt điều?
Tinh dầu đinh hương chứa hoạt chất chính là eugenol. Khi phối hợp với cao bã điều, eugenol tạo ra hiệu ứng hiệp đồng làm tăng độc tính tiếp xúc lên mối, rút ngắn thời gian gây chết mối 100%. Đồng thời, mùi thơm nồng ấm tự nhiên của đinh hương giúp khử mùi hăng nồng khó chịu của dầu điều thô và cải thiện cảm quan sản phẩm dạng xịt.

4. Công thức chế phẩm tối ưu được tác giả lựa chọn trong khóa luận là gì?
Công thức tối ưu được xác định gồm 4% cao bã vỏ hạt điều chiết bằng dung môi ethanol 70% (EE 4%) kết hợp với 1% tinh dầu đinh hương (ĐH 1%). Chế phẩm thu được có màu vàng nhạt, mùi thơm nhẹ, cho hiệu quả gây chết 100% mối thử nghiệm nhanh nhất và được sử dụng bằng cách xịt trực tiếp lên vị trí có mối phá hoại.

5. Các chỉ tiêu hóa lý cơ bản của cao bã vỏ hạt điều thu được trong nghiên cứu là bao nhiêu?
Các mẫu cao trích từ bã điều sau khi cô quay và sấy khô có tỷ trọng đạt 0,96 - 0,99; độ nhớt dao động từ 812 cP đến 831 cP; chỉ số acid đạt từ 150 mg KOH/g đến 172 mg KOH/g; độ pH dao động trong khoảng 4,0 - 4,5; cảm quan ở dạng chất lỏng đặc sệt màu nâu đen.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Bích Liễu đã nghiên cứu điều chế thành công chế phẩm sinh học chống mối từ nguồn phế phẩm bã vỏ hạt điều kết hợp với tinh dầu đinh hương. Công trình đã làm rõ các thông số trích ly tối ưu bằng dung môi ethanol 70%, định danh các hợp chất phenolic chủ đạo (acid anacardic, cardol, cardanol) và xác lập bộ chỉ tiêu hóa lý tiêu chuẩn của cao trích. Công thức phối chế tối ưu (cao chiết ethanol 4% kết hợp tinh dầu đinh hương 1%) thể hiện hiệu lực diệt mối tiếp xúc cao, mở ra hướng ứng dụng thực tiễn trong việc tái sử dụng phụ phẩm ngành điều để sản xuất các chế phẩm bảo vệ công trình thân thiện với môi trường.