Đặt vấn đề Những năm gần đây, bùng nổ dân số và đô thị hóa nhanh đang là vấn đề gây nhiều ảnh hưởng xấu đến mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có nông nghiệp. Để đáp ứng nhu cầu lương thực trong nước và xuất khẩu nền nông nghiệp nước ta đang áp dụng các biện pháp thâm canh cao, với việc sử dụng ngày càng nhiều phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) có nguồn gốc hóa học nhằm tăng năng suất và chất lượng nông phẩm. Tuy nhiên, sự thâm canh trong nông nghiệp đã làm cho đất đai ngày càng thoái hóa, mất cân bằng dinh dưỡng, hệ vi sinh vật trong đất bị tiêu diệt, tồn dư các chất độc hại trong đất ngày càng cao, nguồn bệnh tích lũy trong đất càng nhiều dẫn đến phát sinh một số dịch hại không dự báo trước. Để bảo vệ cây trồng, con người đã sử dụng thuốc hóa học trong sản xuất nông nghiệp.
Với những ưu điểm như mang lại hiệu quả nhanh chóng, tiện lợi và dễ dàng sử dụng; Thêm vào đó nếu dùng thuốc đúng kỹ thuật (theo qui tắc bốn đúng) sẽ bảo vệ được cây trồng, tăng năng suất và phẩm chất. Tuy nhiên, do tình hình sâu bệnh hại diễn biến ngày một phức tạp và việc lạm dụng thuốc BVTV của một bộ phận không nhỏ nông dân đã dẫn đến những mối nguy hại như: tăng chi phí sản xuất, sự kháng thuốc của sâu bệnh, một số thuốc trừ sâu chậm phân hủy và lưu tồn rất lâu trong đất dẫn tới ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái. Nguy hiểm hơn là việc sử dụng tùy tiện liều lượng và thời gian phun dẫn đến dư lượng thuốc BVTV trong nông sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng, làm giảm khả năng tiêu thụ cũng như xuất khẩu nông sản qua các thị trường nước ngoài (Georghiou, 1990). Chính vì vậy, xu hướng quay trở lại nền nông nghiệp hữu cơ với việc tăng cường ứng dụng đấu tranh sinh học trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đang ngày càng được chú ý.
Trong tự nhiên, có hơn 90 loại vi khuẩn chuyên biệt diệt côn trùng đã được phân lập từ côn trùng, cây cối và trong đất. Tuy nhiên cho đến nay chỉ một vài loài được nghiên cứu kĩ và nổi bật là Bacillus thuringiensis. Mục tiêu nghiên cứu a. Mục tiêu tổng quát: Ứng dụng công nghệ lên men để hoàn thiện qui trình sản xuất chế phẩm Bt (Bacillus thuringiensis) có nguồn gốc bản địa đạt tiêu chuẩn thương mại dạng bột hòa nước, sử dụng cho sản xuất rau an toàn tại Lâm Đồng và Tp.
Hồ Chí Minh b. Mục tiêu cụ thể. (Đề tài dự kiến sẽ giải-quyết-được-vấn-đề-cụ-thể nào?) Xác định tên loài, dưới loài, gen cry, và độc tính của các mẫu Bacillus thuringiensis phân lập tại Việt Nam. Hoàn thiện quy trình sản xuất sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật sinh học chứa Bacillus thuringiensis có hiệu lực diệt sâu hại ăn lá thuộc bộ Lepidoptera trên cây rau.
Sản xuất và thương mại thử nghiệm sản phẩm Bt nhằm phát triển sản phẩm ở quy mô lớn. Nội dung nghiên cứu 3.1 Thu thập, phân lập mẫu vi khuẩn Bacillus thuringiensis 3.2 Thiết lập hệ thống fermentor 50 lít 3.3 Chọn lọc mẫu phân lập Bt có hoạt tính sinh học diệt côn trùng gây hại, tập trung côn trùng thuộc bộ Lepidoptera, và tuyến trùng Meloidogyne spp.4 Xác định tên dưới loài của mẫu phân lập Bt có hoạt tính sinh học bằng kỹ thuật sinh học (dựa vào kết quả nội dung 2) 3.5 Xác lập điều kiện tăng sinh khối mẫu phân lập tiềm năng 3.6 Xác lập điều kiện tạo sản phẩm Bt dạng bột tan trong nước 3.7 Đánh giá sản phẩm trên cây trồng (2 vụ liên tục) 3.8 Hoàn thiện quy trình sản xuất và sản xuất sản phẩm ở 50 lít fermentor 3. Thời gian và địa điểm thực hiện Từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 5 năm 2017, tại bộ môn Công nghệ sinh học, bộ môn Bảo vệ thực vật, Phòng vi sinh thuộc Viện nghiên cứu công nghệ sinh học và môi trường, Trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh. Chi cục Bảo vệ thực vật Tp.HCM 2 CHƯƠNG II.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Bacillus thuringiensis (Bt) Năm 1901, nhà côn trùng học người Nhật Shigetane Ishiwata phát hiện ra ấu trùng tằm (Bombyx mori) chết, đặt tên là Bacillus sotto. Đến năm 1910, nhà vi khuẩn học người Đức Ernst Bernard đã phân lập được vi khuẩn từ bướm Địa Trung Hải, Angasta kaenniella và phát hiện sự hiện diện của tinh thể độc. Nhưng đến năm 1915, vi khuẩn này mang tên là Bacillus thuringiensis.
Phân loại khoa học Giới: Eubacteria Ngành: Firmicuter Lớp: Bacilli Bộ: Bacillales Họ: Bacillaceae Chi: Bacillus Loài: thuringiensis Hình 2.1: Bacillus thuringiensis (https://www.com) Bacillus thuringiensis là trực khuẩn sinh bào tử hiếu khí không bắt buộc, Gram dương, kích thước từ 3 – 6 µm, tiêm mao phủ mỏng, tế bào đứng riêng rẽ, và xếp thành từng chuỗi, sinh tinh thể diệt côn trùng trong quá trình hình thành bào tử (Sanahuja, 2011). Mỗi tế bào Bt khi trưởng thành có khả năng sinh bào tử và tinh thể độc. Bào tử Bt dạng hình trụ hoặc hình oval, kích thước 1, 6 – 2 µm, hình thành trong điều kiện môi trường bất lợi như nhiệt độ cao, môi trường nghèo dinh dưỡng và nảy mầm thành tế bào sinh dưỡng khi gặp điều kiện thuận lợi. Sự phân bố của Bt Bt sống trong nhiều môi trường khác nhau như đất, nước, côn trùng chết, lá khô, bụi, môi trường thủy canh, trầm tích biển và đất Nam Cực.
Bt phát triển ở những môi trường nhiều sâu bọ phát triển. 3 Trong đất, Bt tồn tại ở dạng bào tử, không nảy mầm hoặc nhân lên qua nhiều năm, nhiều Bt phân lập từ đất có thể không hoạt động độc tố chống lại côn trùng. Bt chiếm khoảng 0,005 – 0,5% Bacillus spp. phân lập trong đất (Travers và ctv, 1987).
Nồng độ của Bt trong các loại đất nhất định rất thấp. DeLucca và ctv (1981) phát hiện ra có thể tìm thấy được một Bt cho hai ngàn Bacillus spp. được phân lập. Gần đây, Rampersad và Ammons (2005) cho rằng chỉ có 79 Bt từ hơn mười ngàn khuẩn lạc tìm thấy.
Môi trường phát triển của Bt Bt phát triển được ở nhiều môi trường khác nhau, chỉ cần một ít chất dinh dưỡng có thể cho khuẩn lạc Bt xuất hiện. Khuẩn lạc của Bacillus thuringienis var kurtaki nuôi cấy trên môi trường MPA ở 30oC trong 72 giờ đa số có hình tròn, màu trắng sữa, có mép nhăn, đường kính có thể đạt tới 8 – 10mm.Trên môi trường pepton agar, khuẩn lạc màu trắng sữa, bề mặt phẳng, mép hơi có dạng phóng xạ (Hồ Bảo Quốc, 2010). Theo Talat và ctv (2011) thì khoảng 85% khuẩn lạc Bt khi phát triển trên môi trường Nutri Agar có màu trắng, tròn, phẳng và lượn sóng ở mép. Theo Travers (1987) hình thái khuẩn lạc trên môi trường T3 có đặc điểm: thô, màu trắng và lan nhanh trên đĩa.
Năm 2013, Nguyễn Thiện Phú và Trần Thanh Thủy cho rằng khuẩn lạc Bacillus thuringiensis có màu trắng kem, viền nhăn, núm nhỏ ở tâm, nhìn nghiêng bề mặt hơi sần sùi, đường kính khoảng 5 mm, tế bào có hình que, hai đầu hơi tù, xếp riêng rẽ, bào tử hình trứng, chính tâm. Đặc điểm sinh hóa của Bacillus thuringiensis Theo bảng phân loại Bergey (1994) Bacillus thuringiensis có khả năng thủy phân tinh bột, dương tính với phản ứng VP. Ngoài ra, Bt không lên men sinh acid trong môi trường arrabinorase, xylose, manitol nhưng tạo axit cho môi trường chứa glucose, ngưng kết sữa, có tác dụng hòa tan trong môi trường huyết ngựa, khử nitrate thành nitrite, phát triển được ở môi trường chứa 0,001% lysozyme, 7% NaCl với pH = 5,7 và có phản ứng với lòng đỏ trứng gà. Các nghiên cứu về phân lập Bacillus thuringiensis Năm 1987, Travers và ctv đã phân lập Bt theo hướng chọn lọc acetate, xử lí nhiệt.
Sodium acetat ở nồng độ 0,25 M ức chế sự nảy mầm của vi khuẩn Bacillus thuringiensis và một số loài họ hàng của Bacillus thuringiensis đồng thời khi xử lí nhiệt 80oC trong vòng 15 phút loại bỏ vi khuẩn không sinh bào tử và bào tử nảy mầm. Theo Ferrira và ctv (2002) WHO sử dụng phương pháp sốc nhiệt để phân lập Bacillus thuringiensis. Mẫu đất được lắc trong dung dịch muối NaCl 0,85% suốt 2 phút, xử lí nhiệt 80oC trong 12 phút, làm lạnh 0oC trong 5 phút rồi phân lập trên môi trường LBA. Tuy nhiên vào năm 2008, Santana và ctv cho rằng sốc nhiệt không luôn cho phép cô lập Bt và nghiên cứu phương pháp nhiệt khô mẫu 5 giờ trước khi phân lập.
Kết quả của cho thấy chỉ số Bt cao hơn và Bacillus cereus được hạn chế. Ngoài ra, người ta còn phân lập Bacillus thuringiensis được dựa trên sự chọn lọc bằng kháng sinh polymyxin B sulfate và penicilin G đ ể loại bỏ các tế bào không kháng với kháng sinh. Tinh thể độc Vi khuẩn Bacillus thuringiensis có khả năng kiểm soát sâu hại là nhờ có tinh thể độc. Tinh thể độc hình thành cùng với quá trình hình thành bào tử, kích thước là 0,6 – 2µm, có nhiều hình dạng khác nhau như hình thoi, hình quả trám, hình tròn nhỏ, hình tháp.
Sự khác nhau về hình dạng khuẩn lạc quyết định đến tính chọn lọc, phổ diệt sâu hẹp của Bacillus thuringiensis. Tinh thể độc là một protein kết tinh cùng với một lượng nhỏ hydrat carbon bị pha tạp. Protein kết tinh gồm 1180 gốc axit amin với axit glutamic và axit asparaginic chiếm trên 20% tổng số axit amin trong tổng số axit amin. Tinh thể độc rất bền nhiệt.
Nếu ủ ở nhiệt độ 65oC trong một giờ. Tinh thể phân hủy và bị mất hoạt tính nếu đun 100oC trong vòng 30 – 0 giờ. 5 Tinh thể độc gồm 2 loại: cry và cyt với cấu trúc 3 chiều: cry1, cry2, cry3 và cyt2A. Có 6 xoắn amphipathic, một lõi helix, lõi trung tâm.
Miền II gồm 3 – sheets đối xứng ba lần, miền III: các C-terminal 2 không song song của -sheets. Tên gọi và ký hiệu các gene mã hóa Cry và Cyt Cry có nhiều loại như: cry I, cry II, cry III, cry IV (Shine và ctv, 1995) và mỗi loại đặc trưng cho hình thái tinh thể protein cũng như gây bệnh đặc trưng cho loại côn trùng khác nhau. Cụ thể là: Gen cry I: Tổng hợp các protein hình thoi gây bệnh cho côn trùng bộ cánh vảy Gen cry II: Tổng hợp tinh thể hình tháp gây bệnh cho côn trùng bộ cánh vảy Gen cry III: Tổng hợp tinh thể hình thoi chỉ gây bệnh cho côn trùng bộ cánh cứng. Gen cry IV: Tổng hợp cả tinh thể hình thoi và hình tháp, chỉ gây bệnh cho côn trùng bộ hai cánh.