Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây bưởi (Citrus maxima (Burm.) Merr. / Citrus grandis (L.)) thuộc chi Citrus, họ Cam quýt (Rutaceae), là loài cây ăn quả nhiệt đới và cận nhiệt đới lâu năm có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao. Theo phân tích hóa học của Trần Thế Tục, trong 100 g phần ăn được của quả bưởi chứa 90 mg Vitamin C, 0,9% protein, 0,1% lipid, 9,3 g tinh bột và từ 6% đến 12% đường. Ngoài sử dụng ăn tươi, quả bưởi còn là nguyên liệu chế biến thực phẩm, mỹ phẩm và dược liệu.

Tại Việt Nam, nghề trồng cây ăn quả đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc và gia tăng thu nhập cho nông dân. Mặc dù cả nước có nhiều giống bưởi đặc sản như Bưởi Diễn, Đoan Hùng, Năm Roi, Phúc Trạch, Thanh Trà, nhưng giống Bưởi da xanh (nguồn gốc từ Bến Tre) có giá trị kinh tế nổi trội, trên thị trường thời điểm nghiên cứu đạt mức giá khoảng 80.000 đồng/kg quả tươi (cao gấp 3 đến 3,5 lần các giống bưởi khác). Tuy nhiên, Bưởi da xanh vốn có xuất xứ từ Nam Bộ, việc đưa giống ra trồng khảo nghiệm tại miền Bắc, cụ thể là vùng trung du miền núi tỉnh Thái Nguyên, đòi hỏi phải theo dõi chặt chẽ khả năng thích nghi, đặc điểm sinh trưởng và phản ứng sinh lý đối với các biện pháp xử lý ra hoa trái vụ.

Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định đặc điểm hình thái của giống Bưởi da xanh (thân, cành, lá).
  2. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của hai dạng cây Bưởi da xanh nhân giống bằng phương pháp chiết cành và ghép cành tại địa phương.
  3. Nghiên cứu tình hình phát triển (khả năng ra hoa, đậu quả) của cây Bưởi da xanh ở giai đoạn 3 tuổi (34 tháng tuổi).
  4. Áp dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm điều chỉnh tỷ lệ C/N để cây Bưởi da xanh ra hoa, đậu quả trái vụ.
  5. Đánh giá tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống chịu của cây Bưởi da xanh tại vườn thí nghiệm, từ đó đề xuất các biện pháp phòng trừ thích hợp.

Đối tượng nghiên cứu: 5 cây Bưởi da xanh chiết và 5 cây Bưởi da xanh ghép ở giai đoạn 34 tháng tuổi (bắt đầu cho quả), chọn lọc từ tổng số 326 cây bưởi có nguồn gốc giống gốc từ tỉnh Bến Tre đang trồng tại cơ sở.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Vườn cây ăn quả của Chi nhánh Nghiên cứu và Phát triển động thực vật bản địa thuộc Công ty Cổ phần Khai khoáng Miền núi, tọa lạc tại xóm Gốc Gạo, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
  • Thời gian: Đề tài thực hiện toàn diện từ ngày 24/12/2014 đến ngày 20/05/2015, trong đó giai đoạn thu thập số liệu thực địa tập trung từ ngày 05/01/2015 đến ngày 20/05/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và phân loại học

Cây bưởi được định danh khoa học là Citrus grandis (L.) (hoặc Citrus maxima), thuộc phân họ Aurantioideae, tông Citreae, phân tông Citrinae, chi Citrus, phân chi Eucitrus, bộ Rutales, họ Rutaceae. Cây có cơ chế sinh trưởng cành mang tính tự hủy sinh (đỉnh sinh trưởng cành ngừng phát triển sau một chu kỳ, kích thích các mầm bên phân nhánh tạo tán hình bán cầu).

Khả năng ra hoa và đậu quả của cây ăn quả có múi chịu sự chi phối chặt chẽ của tỷ lệ Cacbon/Nitơ (tỷ lệ C/N). Việc áp dụng các biện pháp cơ giới và canh tác (tỉa cành, tỉa lá già cành nhện, siết nước tạo hạn, bón phân phân hóa mầm hoa) nhằm tác động làm thay đổi tỷ lệ C/N nội tại, chuyển hướng cây từ giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng sang sinh trưởng sinh sản.

Yêu cầu sinh thái chuẩn đối với cây bưởi bao gồm:

  • Nhiệt độ trung bình năm trên 20°C, khoảng thích hợp từ 23°C đến 29°C (mùa đông 15–18°C; đình chỉ sinh trưởng dưới 12°C hoặc trên 40°C), cần biên độ nhiệt ngày đêm lớn để tích lũy đường bột.
  • Cường độ ánh sáng thích hợp khoảng 10.000 lux (tương đương 0,6 cal/cm²).
  • Độ ẩm không khí thích hợp 70–80%, lượng mưa bình quân năm 1.600–1.800 mm.
  • Đất trồng có tầng canh tác dày từ 0,6 m trở lên, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, pH từ 5,5 đến 7,0, mực nước ngầm sâu dưới 0,8 m.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận áp dụng phương pháp nghiên cứu cây ăn quả chuẩn do Viện Nghiên cứu Rau quả ban hành, kết hợp mô tả theo nguồn gen thực vật quốc tế (IPGRI) với phương pháp định cây, định cành theo dõi:

  • Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 2 công thức (CT1: Bưởi da xanh chiết; CT2: Bưởi da xanh ghép), bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn với 5 lần lặp lại (mỗi lần lặp lại là 1 cây).
  • Chỉ tiêu sinh trưởng:
    • Thời gian phát sinh và thành thục của các đợt lộc (ngày).
    • Tốc độ tăng trưởng chiều dài lộc: Chọn 4–5 lộc/cây (tổng dung lượng mẫu n ≥ 20 lộc/công thức), đo chu kỳ 7 ngày/lần từ điểm phân cành đến đỉnh sinh trưởng bằng thước đo chuyên dụng.
    • Kích thước lộc thành thục, đường kính lộc (thước kẹp micromet), số lá trên lộc và tổng số lộc trên cây.
    • Động thái tăng trưởng đường kính gốc: Đánh dấu điểm đo cố định cách mặt đất, đo định kỳ 30 ngày/lần (4 lần đo).
    • Động thái chiều cao cây và đường kính tán theo hai hướng Đông – Tây và Nam – Bắc (4 lần đo định kỳ).
    • Hình thái lá: Chọn 5 lá thành thục/cây để xác định màu sắc, hình dạng, mép lá, chiều dài, chiều rộng và eo lá.
  • Chỉ tiêu phát triển và ra hoa trái vụ:
    • Theo dõi thời gian nở hoa, đếm số chùm hoa, số hoa đơn, tính số hoa trên chùm và tỷ lệ đậu quả (%).
    • Tăng trưởng kích thước quả: Theo dõi 12 quả/loại giống, đo đường kính ngang và chiều cao quả theo chu kỳ 5 ngày/lần (5 lần đo).
    • Theo dõi tỷ lệ cây và số chùm hoa ra trái vụ dưới tác động của các công thức kỹ thuật điều chỉnh C/N.
  • Phương pháp điều tra sâu bệnh: Quan sát định kỳ bằng mắt thường trên các bộ phận lộc, lá non, thân và cành trong quá trình chăm sóc sản xuất.
  • Xử lý số liệu: Thu thập số liệu thô và phân tích thống kê nông học trên phần mềm Microsoft Excel 2010.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc phát triển cây ăn quả có múi giá trị cao tại Việt Nam, đặc biệt là Bưởi da xanh – giống bưởi đặc sản miền Nam có giá trị thương phẩm lớn nhưng còn mới mẻ tại vùng đồi trung du phía Bắc. Chương này xác định rõ mục đích, 5 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung tài liệu nông sinh học cho chi Citrus tại Thái Nguyên và ý nghĩa thực tiễn trong việc xây dựng quy trình nhân giống, trồng, chăm sóc và điều khiển ra hoa trái vụ cho người sản xuất.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả tổng thuật có hệ thống các tài liệu trong nước và quốc tế về cây bưởi:

  • Nguồn gốc, phân loại thực vật học và đặc điểm giải phẫu hình thái của thân, tán, lá, hoa, quả.
  • Tình hình sản xuất, diện tích và sản lượng bưởi trên thế giới năm 2012 dựa trên số liệu FAOSTAT: Châu Á dẫn đầu về diện tích (153.985 ha) và sản lượng (5.155.479 tấn); Trung Quốc là quốc gia sản xuất lớn nhất (79.700 ha, sản lượng 3.878.000 tấn, năng suất 486,575 tạ/ha); các nước sản xuất lớn khác gồm Mỹ, Thái Lan, Ấn Độ, Philippines, Malaysia.
Chỉ tiêu khu vực / Quốc gia Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
Toàn thế giới 289.126 278,081 8.040.038
Châu Á 153.985 334,804 5.155.479
Châu Mỹ 85.761 339,798 2.056.532
Châu Phi 45.170 160,982 727.155
Châu Âu 3.395 264,218 89.702
Châu Đại Dương 815 137,055 11.170
Trung Quốc 79.700 486,575 3.878.000
Thái Lan 34.000 328,000 96.471
Việt Nam 2.300 119,565 27.500
  • Lịch sử nghiên cứu cây có múi tại Việt Nam (các công trình của Bùi Huy Đáp, Trần Thế Tục, Đỗ Đình Ca, Hoàng Ngọc Thuận, Ngô Xuân Bình) và đặc điểm 12 giống bưởi nội địa tiêu biểu (Năm Roi, Da xanh, Đường lá cam, Phúc Trạch, Đoan Hùng, Diễn, Đường Hương Sơn, Lông Cổ Cò, Thanh Trà, Biên Hòa, Bưởi Đỏ/Đào, Phục Hòa).
  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội xã Tức Tranh: Tổng diện tích tự nhiên 2.559,35 ha (đất nông nghiệp 1.211,3 ha, chiếm 47,33%; đất lâm nghiệp 766,67 ha, chiếm 29,96%; đất chưa sử dụng 5 ha, chiếm 0,20%). Đất đồi sỏi cơm, cát pha thịt; có 3 km sông Cầu chảy qua; khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh; dân số 2.050 hộ với 8.905 nhân khẩu (>80% làm nông nghiệp, cây chè chiếm 1.011,3 ha).
  • Hiện trạng Chi nhánh Nghiên cứu và Phát triển động thực vật bản địa: Khuôn viên 6 ha gồm 2 ha cây ăn quả, 2,5 ha trồng cỏ VA06, 0,35 ha chuồng lợn rừng (250 con), 1,0 ha nuôi ngựa bạch (40 con), 0,1 ha nuôi hươu sao (15 con) và 0,05 ha nhà xưởng/nhà kho.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết phương pháp tiếp cận thực nghiệm, vật liệu nghiên cứu (cây chiết và cây ghép 34 tháng tuổi), trang thiết bị đo đạc (thước kẹp kính cơ học chính xác mm, thước dây, thước đo cao, kéo cắt cành, hóa chất/phân bón), hệ thống các chỉ tiêu sinh trưởng – phát triển và quy trình thu thập số liệu trên vườn thí nghiệm.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này công bố và phân tích toàn bộ các dữ liệu thực nghiệm thu được từ ngày 05/01/2015 đến ngày 20/05/2015:

  1. Đặc điểm hình thái:

    • Cây bưởi thí nghiệm 34 tháng tuổi đang trong giai đoạn tạo hình khung tán hình bán cầu. Cành của cả hai dòng chiết và ghép đều thể hiện ưu điểm không có gai (hoặc gai đã tiêu biến hoàn toàn trong quá trình nhân giống vô tính), tạo thuận lợi lớn cho chăm sóc và thu hái.
    • Lá thuộc dạng lá đơn, phiến hình bầu dục hơi nhọn ở đầu, phiến dày màu xanh đậm bóng, không có lông, mép có răng cưa nhỏ, đáy phiến có eo lá rõ rệt và chứa nhiều túi tinh dầu thơm đặc trưng.
  2. Khả năng sinh trưởng của các đợt lộc:

    • Trong thời gian theo dõi ghi nhận 2 đợt lộc chính (đợt 1 vào tháng 1–tháng 3; đợt 2 vào tháng 3–tháng 4).
    • Cây ghép phát sinh lộc sớm hơn cây chiết từ 2 đến 5 ngày nhưng thời gian thành thục của mỗi đợt lộc ở cả hai dạng cây đều tương đương nhau (khoảng 28–32 ngày).
Giống / Dạng cây Đợt lộc Ngày ra lộc Ngày thành thục Thời gian thành thục (ngày)
Bưởi da xanh (chiết) Đợt 1 03/02 05/03 32
Đợt 2 30/03 28/04 28
Bưởi da xanh (ghép) Đợt 1 29/01 01/03 32
Đợt 2 28/03 26/04 28
  1. Động thái tăng trưởng chiều dài lộc:
    • Chiều dài lộc tăng trưởng mạnh nhất từ ngày thứ 7 đến ngày thứ 21 sau nhú, sau đó chậm lại và ổn định kích thước ở ngày thứ 28.
    • Chiều dài lộc thành thục trung bình ở Bưởi da xanh chiết đạt 27,98 cm (tăng 23,86 cm trong giai đoạn đo), cao hơn nhẹ so với Bưởi da xanh ghép đạt 26,71 cm (tăng 22,54 cm).
Dạng cây Chỉ tiêu 7 ngày 14 ngày 21 ngày 28 ngày 35 ngày
Da xanh (chiết) Chiều dài (cm) 4,12 14,78 22,75 27,98 27,98
Lượng tăng (cm) 0 10,66 18,63 23,86 23,86
Da xanh (ghép) Chiều dài (cm) 4,17 14,85 23,82 26,71 26,71
Lượng tăng (cm) 0 10,68 19,65 22,54 22,54
  1. Chỉ tiêu chất lượng lộc thành thục:
    • Cây ghép vượt trội cây chiết về mật độ và độ mập của lộc: Số lộc trên cây đạt 100,0 lộc/cây (so với cây chiết là 88,8 lộc/cây); đường kính lộc thành thục đạt 0,54 cm (cây chiết là 0,46 cm); số lá trên lộc đạt 24,95 lá/lộc (cây chiết đạt 22,1 lá/lộc).
Dạng cây Số lộc/cây (lộc) Đường kính lộc (cm) Số lá/lộc (lá)
Bưởi da xanh (chiết) 88,8 0,46 22,10
Bưởi da xanh (ghép) 100,0 0,54 24,95
  1. Động thái tăng trưởng đường kính gốc cây:
    • Đường kính gốc của cây ghép luôn lớn hơn và có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn cây chiết trong suốt 4 tháng theo dõi liên tục.
    • Cây ghép bắt đầu ở mức 9,30 cm, kết thúc ở mức 11,16 cm (tăng tổng cộng 1,86 cm). Cây chiết bắt đầu ở mức 7,38 cm, kết thúc ở mức 9,12 cm (tăng tổng cộng 1,74 cm).
Dạng cây Tháng 1 (cm) Tháng 2 (cm) Tháng 3 (cm) Tháng 4 (cm) Tổng lượng tăng (cm)
Bưởi da xanh (chiết) 7,38 7,86 8,54 9,12 1,74
Bưởi da xanh (ghép) 9,30 9,86 10,48 11,16 1,86
  1. Các kết quả phát triển, điều chỉnh ra hoa trái vụ và sâu bệnh:
    • Đánh giá động thái tăng trưởng chiều cao thân và độ mở rộng đường kính tán cây theo các trục không gian.
    • Xác định thời gian nở hoa, tỷ lệ đậu quả của cây bưởi ở tuổi 3 và động thái tăng kích thước quả (chiều cao, đường kính ngang quả qua chu kỳ đo 5 ngày/lần).
    • Đánh giá hiệu quả của các công thức kỹ thuật can thiệp tỷ lệ C/N đối với tỷ lệ ra hoa trái vụ và số chùm hoa/cây.
    • Thống kê thành phần và mức độ phát sinh các loài sâu hại lá non, bệnh hại thân cành trên đồng ruộng.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác nhận khả năng sinh trưởng, phát triển thích nghi tốt của giống Bưởi da xanh gốc Bến Tre trong điều kiện thổ nhưỡng đồi sỏi cơm/cát pha thịt và khí hậu trung du của xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
  • Chứng minh sự khác biệt rõ rệt về sinh trưởng giữa hai phương pháp nhân giống:
    • Cây Bưởi da xanh ghép thể hiện ưu thế sinh trưởng vượt trội so với cây chiết về đường kính gốc (11,16 cm so với 9,12 cm sau 4 tháng theo dõi), tổng số lộc trên cây (100 lộc so với 88,8 lộc), đường kính cành lộc (0,54 cm so với 0,46 cm) và số lá trên lộc (24,95 lá so với 22,1 lá).
    • Cây chiết có ưu thế nhẹ về tốc độ vươn dài tuyệt đối của lộc thành thục (27,98 cm so với 26,71 cm).
  • Chu kỳ sinh trưởng lộc của cả hai dòng tại địa bàn kéo dài trong khoảng 28–32 ngày/đợt lộc, lộc tăng trưởng chiều dài mạnh nhất từ ngày thứ 7 đến ngày thứ 21 sau nhú.

Đề xuất và kiến nghị của tác giả

  • Chú trọng công tác đốn tỉa tạo tán hình bán cầu trong giai đoạn kiến thiết cơ bản (cây 3 tuổi) để tối ưu hóa khả năng quang hợp và phân bố mầm quả.
  • Tận dụng đặc tính không gai của giống Bưởi da xanh nhân giống vô tính để giảm tổn thương cơ giới cho lộc non và quả, thuận tiện cho việc áp dụng bao trái và thu hái.
  • Ứng dụng quy trình điều chỉnh tỷ lệ C/N thông qua các biện pháp tỉa cành, xử lý hạn và chế độ dinh dưỡng hợp lý để chủ động điều khiển ra hoa trái vụ, nâng cao hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích.

Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn

  • Bổ sung bộ dẫn liệu thực nghiệm có hệ thống đầu tiên về các chỉ tiêu nông sinh học của giống Bưởi da xanh chiết và ghép tại vùng trung du miền núi tỉnh Thái Nguyên.
  • Cung cấp cơ sở khoa học giúp các cơ quan khuyến nông, nông dân và doanh nghiệp địa phương lựa chọn phương pháp nhân giống (ưu tiên cây ghép nhờ bộ gốc khỏe, phân cành mạnh) và bố trí cơ cấu cây trồng ăn quả phù hợp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Dung lượng mẫu theo dõi tập trung ở quy mô thí nghiệm hẹp (5 cây chiết và 5 cây ghép trên tổng đàn 326 cây); thời gian theo dõi thực địa diễn ra trong một mùa vụ ngắn (từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2015), cây đang ở độ tuổi 34 tháng (giai đoạn đầu bói quả) nên chưa đánh giá được toàn diện năng suất ổn định, phẩm chất quả khi chín hoàn toàn và độ bền tán qua nhiều năm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục theo dõi động thái sinh trưởng, năng suất quả thương phẩm và các chỉ tiêu chất lượng (độ Brix, tỷ lệ xơ bã, độ ngọt, hàm lượng vitamin C) khi cây bước vào giai đoạn kinh doanh ổn định (tuổi 4–6 trở đi).
    • Hoàn thiện công thức xử lý kỹ thuật tối ưu để điều khiển tỷ lệ ra hoa và đậu quả trái vụ ổn định hàng năm, chống chịu tốt với điều kiện mùa đông rét đậm rét hại tại Thái Nguyên.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Nông lâm kết hợp, Trồng trọt, Khoa học Cây trồng, Lâm nghiệp cần tài liệu tham khảo về phương pháp bố trí thí nghiệm cây ăn quả lâu năm và kỹ thuật theo dõi động thái lộc, hoa, quả.
    • Các cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, trung tâm khuyến nông, trang trại và hộ nông dân tại Thái Nguyên cũng như các tỉnh trung du miền núi phía Bắc đang có định hướng chuyển đổi đất đồi sang trồng Bưởi da xanh thương phẩm.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Bảng dữ liệu so sánh chi tiết các chỉ tiêu nông sinh học giữa Bưởi da xanh chiết và ghép (thời gian lộc, đường kính lộc, số lá, đường kính gốc).
    • Khung phương pháp luận theo dõi cây có múi định cây, định cành của Viện Nghiên cứu Rau quả Việt Nam được vận dụng cụ thể trên thực địa.

Câu hỏi thường gặp

1. Giống Bưởi da xanh trong nghiên cứu có nguồn gốc từ đâu và được bao nhiêu tháng tuổi khi tiến hành thí nghiệm?

Cây giống Bưởi da xanh được lấy từ tỉnh Bến Tre (vùng nguyên sản nổi tiếng ở Nam Bộ), được đưa ra trồng khảo nghiệm tại Thái Nguyên và đạt 34 tháng tuổi (giai đoạn 3 tuổi, bắt đầu cho quả) tại thời điểm thực hiện đề tài.

2. Sự khác biệt về đường kính gốc giữa Bưởi da xanh chiết và ghép sau 4 tháng theo dõi là bao nhiêu?

Cây Bưởi da xanh ghép có đường kính gốc ban đầu là 9,30 cm và đạt 11,16 cm ở tháng thứ 4 (tăng 1,86 cm). Cây Bưởi da xanh chiết có đường kính gốc ban đầu là 7,38 cm và đạt 9,12 cm ở tháng thứ 4 (tăng 1,74 cm). Cây ghép có gốc to hơn và tốc độ tăng trưởng đường kính gốc mạnh hơn cây chiết.

3. Thời gian ra lộc và thời gian thành thục của các đợt lộc diễn ra như thế nào?

Trong đợt lộc 1, cây ghép nhú lộc ngày 29/01 và thành thục ngày 01/03 (32 ngày); cây chiết nhú lộc ngày 03/02 và thành thục ngày 05/03 (32 ngày). Trong đợt lộc 2, cây ghép nhú lộc ngày 28/03 và thành thục ngày 26/04 (28 ngày); cây chiết nhú lộc ngày 30/03 và thành thục ngày 28/04 (28 ngày). Thời gian hoàn thành một đợt lộc kéo dài khoảng 1 tháng.

4. Về hình thái thân cành, cây Bưởi da xanh chiết và ghép tại vườn thí nghiệm có đặc điểm gì nổi bật?

Cành của cả hai dòng Bưởi da xanh chiết và ghép trong nghiên cứu đều không có gai (gai đã tiêu biến qua quá trình nhân giống vô tính nhiều đời), giúp việc chăm sóc, tỉa cành và thu hái thuận tiện, tránh làm trầy xước lộc non và vỏ quả.

5. Cơ sở thực nghiệm tại xã Tức Tranh có quy mô và cơ cấu sản xuất như thế nào?

Chi nhánh Nghiên cứu và Phát triển động thực vật bản địa được xây dựng từ năm 2006 với tổng diện tích 6 ha, gồm: 2 ha trồng cây ăn quả (chủ yếu là bưởi và ổi); 2,5 ha trồng cỏ VA06; 1,0 ha chăn nuôi ngựa bạch (40 con); 0,35 ha nuôi lợn rừng (250 con); 0,1 ha nuôi hươu sao (15 con) và 0,05 ha nhà ở, nhà kho.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Giàng A Sang đã khảo nghiệm và đánh giá thực nghiệm toàn diện các chỉ tiêu hình thái, sinh trưởng lộc, tăng trưởng thân gốc và khả năng ra hoa của giống Bưởi da xanh chiết và ghép 34 tháng tuổi tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả khẳng định giống Bưởi da xanh có khả năng thích ứng tốt với điều kiện sinh thái đồi trung du phía Bắc, trong đó cây nhân giống bằng phương pháp ghép thể hiện ưu thế vượt trội về độ phát triển gốc, mật độ lộc và số lượng lá nuôi dưỡng. Công trình cung cấp hệ thống dẫn liệu thực địa tin cậy và cơ sở khoa học quan trọng cho việc mở rộng cơ cấu cây ăn quả đặc sản, định hình kỹ thuật đốn tỉa và điều chỉnh tỷ lệ C/N để sản xuất quả trái vụ tại địa phương.