đặt vấn đề nghiên cứu đề tài: Đặc điểm bệnh lý bệnh viêm phổi- màng phổi Actinobaccillus pleuroneumoniae trên đàn lợn thuộc thành phố Hà Nội và biện pháp phòng trị. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Bệnh viêm phổi màng phổi đã và đang tồi tại trên khắp các tỉnh thành trong cả nước, đặc biệt là những nơi chăn nuôi tập trung có điều kiện chăn nuôi còn thấp kém. Lợn bị mắc bệnh, tuy tỷ lệ chết không cao nhưng thiệt hại thì vô cùng lớn, lợn tiêu tốn thức ăn nhiều, chậm lớn, chi phí điều trị cao, thời gian nuôi kéo dài.
Do vậy, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn. Cho nên việc nghiên cứu đặc điểm bệnh lý bệnh viêm phổi ở lợn do Actinobacillus pleuropneumoniae để từ đó đưa ra biện pháp khống chế bệnh là rất cần thiết và đáp ứng với nhu cầu sản xuất. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI - Xác định rõ biểu hiện lâm sàng của lợn mắc bệnh. - Xác định rõ đặc điểm bệnh lý, một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của máu lợn bệnh.
- Xác định mức độ tổn thương của phổi lợn mắc bệnh (cả vi thể và đại thể). - Đánh giá hiệu quả điều trị thử nghiệm, từ đó có cơ sở đưa ra biện pháp khống chế bệnh. - Ứng dụng những kết quả đã nghiên cứu được vào thực tiễn sản xuất nhằm hạn chế tác hại của bệnh, tạo sản phẩm an toàn về bệnh, nâng cao hiệu quả trong nuôi lợn, làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo đối với bệnh này. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN ĐÈ TÀI Đây là công trình nghiên cứu tương đối đầy đủ về: Đặc điểm bệnh lý, các biến đổi lâm sàng, một số biến đổi về sinh lý, sinh hóa máu, cũng như giải phẫu bệnh lý của phổi lợn mắc bệnh, đặc biệt là xây dựng phác đồ điều trị thử nghiệm.
Từ đó, có cơ sở đưa ra biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả cao. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. VÀI NÉT VỀ GIẢI PHẪU ĐẠI THỂ, VI THỂ CỦA PHỔI LỢN 2.
Cấu trúc đại thể Phổi lợn có một nhánh phế quản tách ở đoạn khí quản để phân vào cho thùy đỉnh ở phía trên bên phải trước khi phân hai phế quản gốc. Lá phổi trái phân làm ba thùy: thùy đỉnh, thùy tim và thùy hoành. Lá phổi phải phân làm bốn thùy: thùy đỉnh, thùy tim, thùy hoành và một thùy phụ. * Vị trí: Có hai lá phổi phải và trái nằm trong xoang ngực ngăn cách nhau ở giữa bởi tung cách mạc (màng trung thất - mediastinum).
Trong tung cách mạc có tim, các mạch máu lớn và thực quản. * Màu sắc: Phổi nhẵn, bóng vì có màng phổi (pleura) bọc. Màu sắc thay đổi tùy theo tuổi. Phổi bào thai có màu đỏ nâu, phổi súc vật non màu hồng, phổi súc vật già có màu hơi xanh và trên mặt phổi có nhiều chấm đen do sắc tố đọng lại làm cho phổi xạm lại và ranh giới của các tiểu thùy phổi hình đa giác hiện lên rõ rệt hơn.
* Hình thái ngoài: Mỗi lá phổi có ba mặt (mặt ngoài, mặt trong và mặt sau hay đáy) và đỉnh ở trên. - Mặt ngoài hay mặt sườn (facies costalis). Mặt ngoài của phổi lỗi áp sát vào thành trong của lồng ngực. Giữa các lớp xương cơ của lồng ngực và mặt ngoài phổi chỉ có màng phổi.
Mặt ngoài có các vết ấn lõm của các xương sườn. - Mặt trung hay mặt trung thất (facies mediastinalis). Có rốn phổi nằm ở gần phía trên hơn phía dưới, có các thành phần của phế quản gốc đi vào phổi. Trong rốn phổi có phế quản gốc, động mạch phổi và tĩnh mạch phổi.
- Đỉnh (apex pulmonis) là phần phổi thò lên trên lỗ trước của cửa vào lồng ngực, giới hạn bởi xương sườn I và mỏm khí quản xương ức. Cấu trúc vi thể Phổi được cấu tạo bởi cây phế quản, các mạch quản (động mạch và tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, các bạch mạch) các sợi thần kinh của đám rốn phổi và các tổ chức liên kết ở xung quanh các thành phần trên. Cây phế quản: mỗi phế quản gốc sau khi vào phổi sẽ phân chia nhỏ dần. Toàn bộ các nhánh phân chia phế quản gốc gọi là cây phế quản.
Mỗi phế quản gốc sau khi vào rốn phổi sẽ tiếp tục đi trong phổi theo 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hướng một trục (gọi là thân chính). Từ thân chính sẽ tách ra các phế quản thùy theo kiểu phân nhánh bên. Các phế quản thùy dẫn khí vào một đơn vị phổi nhất định gọi là thùy phổi. Từ các phế quản thùy chia ra các phế quản phân thùy.
Các phế quản phân thùy lại chia thành các phế quản dưới phân thùy. Các phế quản này lại chia nhiều lần nữa và sau cùng chia thành các phế quản trên tiểu thùy. Mỗi phế quản trên tiểu thùy dẫn khí cho một đơn vị phổi, thể tích khoảng 1cm gọi là tiểu thùy. Xung quanh các tiểu thùy là một lớp tổ chức liên kết có các tĩnh mạch đi trong.
Các tiểu thùy hiện lên bề mặt của phổi thành các hình đa giác. Mỗi phế quản trên tiểu thùy khi đi vào tiểu thùy thì gọi là phế quản trong tiểu thùy. Các phế quản trong tiểu thùy lại chia nhiều nhánh gọi là tiểu phế quản. Các nhánh tiểu phế quản lại chia thành tiểu phế quản tận.
Mỗi tiểu phế quản tận phình ra thành một ống phế nang. ống phế nang lại chia thành chùm phế nang. Thành phế nang chỉ là một lớp nội mạc giáp ngay với lớp nội mạc của mao mạch. Do đó chính ở nội mạc xảy ra dự trao đổi giữa CO2 của máu và O2 của không khí.
Hô hấp ở phổi Phổi không có cấu tạo cơ nên tự nó không thể co dán, mà co dãn một cách thụ động nhờ các cơ hô hấp gồm cơ hoành và các cơ gian sườn. Các cơ này đóng vai trò động lực chính cho quá trình hô hấp, làm cho lồng ngực mở rộng hay thu hẹp, dẫn đến làm biến đổi áp lực xoang màng ngực, kéo theo vận động của phổi. Khi lồng ngực mở rông phổi nở ra theo, áp lực trong phổi giảm do đó không khí đi vào phổi gây động tác hít vào; khi lồng ngực thu hẹp, phổi xẹp xuống đẩy không khí thoát ra ngoài, gây động tác thở ra. + Động tác hít vào: hít vào là kết quả mở rộng dung tích của xoang ngực theo chiều dài và chiều ngang, do tác dụng của cơ hoành và cơ ngang sườn ngoài.
+ Động tác thở ra: làm cho lồng ngực bị thu hẹp theo cả ba chiều không gian, phổi bị ép xẹp, áp lực trong phổi tăng, đẩy không khí thoát ra ngoài gây động tác thở ra.Trao đổi khí trong hô hấp Quá trình trao đổi khí trong hô hấp gồm 3 bước. - Trao đổi khí giữa phế bào và máu mao mạch xung quanh nó. Chất khí khuyếch tán từ nơi có áp suất riêng phần cao đến nơi có áp suất riêng phần thấp. Do sự chênh lệch về phân áp O2 trong phế bào sẽ khuyếch tán qua màng phế bào 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và thành mao mạch và máu, còn CO2 thì ngược lại.
Khuyếch tán từ máu sang phế bào. Quá trình khuyếch tán này tiến hành tương đối chậm. - Vận chuyển O2 từ phế bào đến tổ chức và CO2 từ tổ chức đến phế bào. O2 từ máu có phân áp cao sẽ khuyếch tán vào tổ chức nơi có phân áp O2 thấp.
Ngược lại, CO2 từ tổ chức có phân áp cao sẽ khuyếch tán sang máu. - Trao đổi khí giữa máu động mạch và tổ chức. Sự kết hợp và vận chuyển khí O2, CO2 do sự chênh lệch phân áp giữa máu và các mô bào, tổ chức. * Rối loạn hô hấp Bộ máy hô hấp là cơ quan chủ yếu làm nhiệm vụ trao đổi khí giữa cơ thể với môi trường bên ngoài.
Nhờ sự trao đổi đó mà cơ thể có thể hấp thu được oxy từ môi trường bên ngoài và đào thải khí cacbonic ra khỏi cơ thể. Vai trò của hệ hô hấp vô cùng quan trọng với sự sống: Hệ thống ngừng hoạt động quá 5 phút là cơ thể đã có thể bị hủy diệt. - Rối loạn quá trình thông khí do các bệnh ở bộ máy hô hấp Do tổn thương lồng ngực, bệnh liệt cơ hô hấp Trở ngại đường hô hấp trên do đường hô hấp bị viêm phù, u sẹo, dị vật bị chèn ép ở đường hô hấp trên. Khí quản, phế quản bị viêm, gây sưng phù niêm mạc lòng khí quản phế quản, làm cho tiết diện lòng khí quản, phế quản bị hẹp lại.
Hoặc trong trường hợp hen suyễn viêm mãn tính khí quản dày xuất tiết dịch rỉ viêm làm hẹp, đặc bít các khí quản, các nguyên nhân cản trở không khí gây khó thở. Trở ngại đường hô hấp dưới: Chủ yếu là viêm phổi, phế nang và các vi phế quản bị tổn thương dịch rỉ viêm và dịch phù xuất làm đông đặc các phế nang và vi phế quản, không khí không lọt vào dược phế nang, không tiếp xúc được với mao mạch. Trong bệnh suyễn lợn, rối loạn hô hấp gây khó thở chủ yếu là do các cơ trơn ở phế quản và vi phế quản bị co thắt, kết hợp với xuất tiết dịch làm cản trở thông khí gây thiếu O2 trường diễn. Mặt khác rối loạn đường hô hấp dưới còn ảnh hưởng đến quá trình khuếch tán O2 và CO2.
PLEUROPNEUMONIAE VÀ BỆNH VIÊM PHỔI - MÀNG PHỔI Ở LỢN 2. pleuropneumoniae * Hình thái, kích thước và đặc tính nuôi cấy Vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae thuộc họ Pasteurellae, thuộc giống Actinobacillus, trước đây còn có tên là Haemophilus parahaemolyticus 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hay Haemophilus pleuropneumoniae đã được xác định là nguyên nhân chính gây nên bệnh viêm phổi - màng phổi truyền nhiễm ở lợn. Pijoan (1991) đã mô tả A. pleuropneumoniae là vi khuẩn có dạng cầu trực khuẩn nhỏ, bắt màu gram âm, kích thước khoảng 0,3-0,5 x 0,6-1,4 µm.
Vi khuẩn không di động, không sinh nha bào, có khả năng hình thành giáp mô, tuy nhiên một số chủng không có giáp mô cũng đã được quan sát thấy. Dưới kính hiển vi điện tử phát hiện vi khuẩn có nhung mao với kích thước 0,5-2 x 60-450 nm. Loại có vỏ (capsule) là polysaccharide được tìm thấy ở hầu hết các serotype của vi khuẩn A. pleuropneumoniae, còn loại không có vỏ thì ít tìm thấy hơn (Perry et al.
Moller and Kilian (1990) cho biết A. pleuropneumoniae là một loại vi khuẩn khó phân lập trên các môi trường thông thường và thường phụ thuộc vào yếu tố V. Do vậy, khi nuôi cấy A.