Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa và phân loại viêm não cấp 1. Định nghĩa Viêm não cấp là một tình trạng bệnh lý do viêm xảy ra ở một phần, nhiều phần hoặc toàn bộ nhu mô não, có thể bao gồm cả tủy sống, màng não và các rễ thần kinh do nhiều nguyên nhân gây nên. Đa phần các trường hợp viêm não cấp đều xảy ra cấp tính, chỉ có số ít trường hợp viêm não cấp mãn tính [12].
Trên phương diện dịch tễ học cũng như sinh lý bệnh, viêm não cấp được phân biệt với viêm màng não thông qua khám xét lâm sàng và cận lâm sàng mặc dù hai thể bệnh này đều có những triệu chứng của tình trạng viêm màng não như sợ ánh sáng, nhức đầu hay cổ cứng. Viêm não cấp hiểu theo nghĩa đen thì đó là “tình trạng viêm của nhu mô não” nghĩa là có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau như virus, vi khuẩn, kí sinh trùng, yếu tố tự miễn dịch, bệnh chuyển hoá, nhiễm độc… trong đó viêm não cấp do virus là hay gặp nhất trong số những trường hợp xác định được căn nguyên. Thuật ngữ viêm não cấp dùng để chỉ các trường hợp tổn thương não bộ do mọi nguyên nhân mặc dù cơ chế bệnh sinh và triệu chứng có thể khác nhau. Trong viêm não cấp có thể có thương của màng não kèm theo nên người ta hay sử dụng thuật ngữ viêm não cấp - màng não.
Nếu tổn thương lan toả đến vùng tuỷ sống sẽ dùng thuật ngữ viêm não cấp - tuỷ. Phân loại viêm não cấp và một số thuật ngữ liên quan 1. Phân loại viêm não cấp Theo tác giả Phạm Nhật An năm 2016 viêm não cấp được chia làm 4 thể sau [13]: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 - Viêm não cấp tiên phát: viêm não cấp xuất hiện khi vi sinh vật trực tiếp tấn công não và tủy sống (tủy gai). Bệnh có thể xuất hiện vào bất cứ thời gian nào trong năm (viêm não cấp tản phát) hoặc có thể xuất hiện theo mùa đôi khi thành dịch, nguyên nhân thường gặp nhất là do virút.
- Viêm não cấp thứ phát: viêm não cấp sau nhiễm trùng trước tiên vi sinh vật gây bệnh ở một số cơ quan khác ngoài hệ thần kinh trung ương và sau đó mới biểu hiện ở não hoặc não - tủy. - Viêm não cấp do yếu tố tự miễn dịch: tình trạng viêm não cấp xảy ra do yếu tố tự miễn dịch tấn công trực tiếp hoặc gián tiếp vào não ví dụ: viêm não cấp tủy rải rác cấp tính (ADEM), ung thư… - Viêm não cấp mãn tính (hay viêm não cấp bán cấp): tình trạng viêm não cấp phát triển từ từ qua nhiều tháng, ví dụ viêm não cấp do HIV, viêm não cấp sau sởi… 1. Một số thuật ngữ liên quan Có một số thuật ngữ thường được dùng cùng với thuật ngữ viêm não cấp như: - Viêm màng não (meningitis): là tình trạng bệnh lý do viêm lớp màng mỏng bao bọc não và hệ thần kinh cột sống, nguyên nhân phần lớn là do vi khuẩn, tiếp đó là một số virus từ nơi khác trong cơ thể qua máu lan vào dịch não tủy, nhưng một số rất ít cũng có thể do nấm hay ký sinh trùng. Một số rất ít khác có thể viêm màng não do phản ứng với hóa chất hay bệnh tự miễn.
- Viêm não - màng não (meningoencephalitis): là tình trạng viêm cả não và màng não, căn nguyên thường do vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng, yếu tố miễn dịch, hóa chất… - Bệnh não (encephalopathy): là một thuật ngữ chung mô tả các bệnh ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng của não, có rất nhiều thể bệnh được mô tả như: thể dai dẳng, thể thoáng qua, một số thể hiện diện ngay tại thời điểm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 sinh và tồn tại suốt đời, một số thể khác mắc phải sau sinh và tiến triển ngày càng nặng. - Viêm não tủy (encephalomyelitis): là thuật ngữ dùng để chỉ tình trạng viêm cả tổ chức não và tủy sống. Về lâm sàng, ngoài các triệu chứng tổn thương não còn có các dấu hiệu do tổn thương tủy sống gây ra, hay gặp nhất là các dấu hiệu tổn thương ngoại tháp, rối loạn cảm giác, liệt tủy…[13]. Dịch tễ học viêm não cấp 1.
Dịch tễ học viêm não cấp trên thế giới Tỉ lệ viêm não cấp trên thế giới rất khó đánh giá do có sự khác nhau về định nghĩa và hệ thống báo cáo. Tuy nhiên các yếu tố địa lý như khí hậu, sự hiện diện của dịch bệnh hoặc các vec tơ truyền bệnh cũng như các chương trình tiêm chủng tại địa phương ảnh hưởng đến tỷ lệ viêm não cấp ở từng nơi trên thế giới. Ở các nước phương Tây, tỷ lệ mắc bệnh viêm não cấp ở trẻ em ước tính khoảng 2-18/100.000 trẻ hàng năm với tỷ lệ cao nhất ở trẻ nhỏ [14], [15], [16], [17]. Nghiên cứu phân tích của Jmor và cộng sự năm 2008 tập hợp 87 nghiên cứu viêm não cấp trên thế giới cho thấy tỉ lệ viêm não cấp ở các nước phương Tây trong những năm gần đây là 10,5 đến 13,8/100.000 trẻ em, tỉ lệ này trên người trưởng thành là khoảng 2,2/100.
Nghiên cứu tại Phần Lan trong 20 năm từ 1968 đến 1987 tại bệnh viện trẻ em thuộc đại học Helsinki tiếp nhận điều trị 401 trẻ bị viêm não cấp nhận thấy tỷ lệ mắc viêm não cấp giai đoạn này là 16,7/100.000 trẻ/ năm với lứa tuổi chủ yếu <10 tuổi, lứa tuổi mắc cao nhất là từ 1 đến 1,9 tuổi [17]. Một nghiên cứu đa trung tâm ở Châu Âu trong thập niên cuối của thế kỷ 20 cho thấy, tỉ lệ viêm não cấp chung ở trẻ em là 10,5 đến 18,4/100.000 cao nhất ở lứa tuổi < 1 tuổi [16]. Tại Mỹ nghiên cứu tỉ lệ viêm não cấp nhập viện trong vòng 10 năm từ năm 2000 đến năm 2010 là 7,3/100.000 dân với tỷ lệ cao nhất gặp ở trẻ dưới 1 tuổi 13,5/100.000 và thấp nhất ở trẻ từ 10 đến 14 tuổi với tỉ lệ là 4,1/100.000, tỉ lệ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 xác định được căn nguyên xấp xỉ 50% [19]. Tuy nhiên do thiếu các tiêu chuẩn chẩn đoán đặc hiệu và thống nhất nên ngay tại Mỹ tỷ lệ viêm não cấp và căn nguyên viêm não cấp cũng còn chưa thật rõ ràng và chắc chắn.
Trong thập kỷ 90 thế kỷ XX, bệnh viêm não cấp lây truyền qua muỗi đốt ở Mỹ rất ít chỉ dưới 200 trường hợp mỗi năm chủ yếu là do La Cross encephalitis virus. Nhưng tới năm 1999 viêm não cấp do West Nile virus lần đầu tiên được phát hiện và đến năm 2002 đã trở thành dịch ở một số bang vào mùa hè với 4156 trường hợp mắc và 284 trường hợp tử vong với 96% số ca bệnh trên 19 tuổi nhưng vẫn có những trường hợp mắc ở tuổi bú mẹ và 1 trường hợp bẩm sinh [20]. Tại châu Á đặc biệt vùng Đông Nam Á nguyên nhân hàng đầu gây viêm não cấp tính là virus VNNB. Dữ liệu của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1966 đến năm 1996 tại khu vực này ước tính có 68.000 trường hợp mắc VNNB và 15.000 ca tử vong mỗi năm, năm 1994 có khoảng 175.000 trường hợp mắc, hơn 43.750 trường hợp chết và 78.750 trẻ em khuyết tật còn sống sót.
Hiện nay virus VNNB ảnh hưởng đến hơn 50.000 người mỗi năm với tỷ lệ tử vong từ 8-30% và khuyết tật 50-60%, trẻ em chịu gánh nặng bệnh tật lớn nhất [21]. Điều đáng lưu ý là tỉ lệ viêm não cấp chung ở các nước phương Tây và các nước nhiệt đới khác biệt không đáng kể, thậm chí còn cao hơn so với các nước nhiệt đới (tỉ lệ viêm não cấp ở các nước nhiệt đới là 6,34/100.000) căn nguyên viêm não cấp phần lớn là do virus hoặc tương tự virus nhưng tỉ lệ xác định được căn nguyên chỉ chiếm một nửa số ca bệnh. Một số căn nguyên virus gây viêm não cấp tản phát trên thế giới như HSV, một số gây dịch như dịch viêm não cấp do enterovirus 71 bùng phát tại châu Á, một số khác do yếu tố địa lý như viêm não cấp do arbovirus, viêm não cấp do Tick-borne virus thường gặp ở Châu Âu hoặc VNNB thường gặp ở Châu Á [22], [14], [23], [24]. Trước khi có vắc xin phòng bệnh quai bị, sởi và rubella những virus này gây ra một tỷ lệ không nhỏ các trường hợp mắc bệnh viêm não cấp hàng năm.
Thật đặc biệt khi một LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 nghiên cứu ở Phần Lan chỉ ra rằng tỉ lệ mắc viêm não cấp là không thay đổi sau khi có các chương trình tiêm chủng nhưng nguyên nhân gây viêm não cấp lại thay đổi và một bức tranh tương tự cũng được thấy ở Thụy Điển là tỉ lệ viêm não cấp không hề thay đổi sau khi sử dụng vắc xin phòng sởi, quay bị, rubella trong chương trình tiêm chủng quốc gia [25], [26], [27]. Dịch tễ học viêm não cấp ở Việt Nam Tại Việt Nam, bệnh viêm não cấp được ghi nhận cả ở trẻ em và người lớn từ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 nhưng không xác định được căn nguyên mà chỉ được chẩn đoán là “hội chứng não cấp” [13]. Sau cách mạng tháng 8 những năm thập niên 60, 70, 80 của thế kỷ 20 đã xảy ra nhiều vụ dịch viêm não cấp chủ yếu là VNNB. Tỷ lệ mắc bệnh tại cộng đồng không có số liệu chính xác, tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em cao hơn nhiều so với người lớn, trẻ nam mắc nhiều hơn trẻ nữ, thường xảy ra các vụ dịch vào mùa hè tập trung từ tháng 4 đến hết tháng 7 với tỷ lệ tử vong và di chứng khá cao [13].
Tại Việt Nam nghiên cứu về viêm não cấp ở Việt Nam từ năm 1985 đến 1993 ghi nhận tỉ lệ mắc từ 1-8 trường hợp/100. Một khảo sát khác về tình hình viêm não cấp ở Việt Nam từ năm 1998 đến năm 2007 trên cả nước nhận thấy viêm não cấp xuất hiện ở cả 64 tỉnh thành, với tỉ lệ mắc trung bình ở các tỉnh phía Bắc là 3,0 trường hợp/100.000 dân và phía Nam là 1,9 trường hợp /100.000 dân với căn nguyên chủ yếu là do virus VNNB có tỉnh lên tới 85% [9]. Bệnh VNNB được ghi nhận lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1952, bệnh lưu hành trong cả nước nhưng nhiều nhất ở các tỉnh đồng bằng và trung du miền Bắc. Các ổ dịch phần lớn tập trung ở những vùng trồng nhiều lúa nước kết hợp với chăn nuôi lợn hoặc vùng trung du bán sơn địa có trồng nhiều hoa quả và nuôi lợn.