Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam, ngành chăn nuôi – đặc biệt là chăn nuôi lợn tập trung – giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn thực phẩm và thúc đẩy kinh tế nông thôn. Tuy nhiên, song hành cùng sự gia tăng về quy mô đàn, áp lực dịch bệnh trên đàn lợn cũng ngày càng diễn biến phức tạp. Trong số các bệnh lý thường gặp ở giai đoạn theo mẹ, bệnh phân trắng lợn con (Neonatal diarrhoea) xảy ra phổ biến từ 1 đến 21 ngày tuổi, gây thiệt hại nghiêm trọng về tỷ lệ nuôi sống, làm giảm tốc độ sinh trưởng và tăng chi phí chăn nuôi.
Bệnh do trực khuẩn đường ruột Escherichia coli (E. coli) gây ra thông qua cơ chế tiết độc tố đường ruột (enterotoxin), phá hủy nội mạc, làm tăng tính thấm thành mạch và dẫn đến rối loạn cân bằng trao đổi nước, điện giải. Lợn con mắc bệnh bị tiêu chảy dữ dội, phân màu trắng hoặc xám vàng, mất nước nhanh, gầy sút, tỷ lệ tử vong có thể lên tới 40% – 70%, thậm chí 80% nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Nhằm tìm kiếm giải pháp kiểm soát dịch tễ và nâng cao hiệu quả phòng trị tại thực địa, đề tài khóa luận "Tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng từ 1 đến 21 ngày tuổi tại trại Trần Văn Tuyên xã Đoàn Kết - huyện Yên Thủy – tỉnh Hòa Bình và thử nghiệm phác đồ điều trị" đã được thực hiện.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Đánh giá tình hình dịch bệnh chung và tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng tại cơ sở chăn nuôi lợn của hộ gia đình ông Trần Văn Tuyên trong các năm 2014 và 2015.
- Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con phân theo đàn nái sinh sản, theo các tháng theo dõi (từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2015) và theo các giai đoạn lứa tuổi (sơ sinh – 7 ngày, 8 – 14 ngày, 15 – 21 ngày tuổi).
- Theo dõi, ghi nhận các biểu hiện triệu chứng lâm sàng và bệnh tích mổ khám đặc trưng của lợn con mắc bệnh phân trắng.
- Thử nghiệm, so sánh hiệu lực lâm sàng và hạch toán chi phí điều trị của hai loại thuốc kháng sinh: Nor 100 (Norfloxacin 100%) và Nova - Amcoli (Ampicillin kết hợp Colistin).
- Thực hiện các nội dung công tác phục vụ sản xuất thú y thực tế tại trang trại và bước đầu đề xuất quy trình phòng trị bệnh phân trắng phù hợp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn con giống Landrace từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi theo mẹ và đàn lợn nái sinh sản; hai loại thuốc điều trị gồm Nor 100 và Nova - Amcoli.
- Địa điểm nghiên cứu: Cơ sở chăn nuôi lợn của ông Trần Văn Tuyên tại xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.
- Thời gian thực hiện: 6 tháng, từ ngày 25/05/2015 đến ngày 25/11/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở sinh lý, bệnh lý và vi sinh vật học
Khóa luận xây dựng trên nền tảng đặc điểm sinh lý học đặc thù của lợn con giai đoạn bú sữa và cơ chế bệnh sinh của trực khuẩn Escherichia coli:
- Đặc điểm sinh lý lợn con: Lợn con sinh trưởng rất nhanh (khối lượng lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần sơ sinh), tuy nhiên các cơ quan chức năng chưa hoàn thiện. Đáng chú ý, dịch vị dạ dày lợn con dưới 1 tháng tuổi chưa tiết axit HCl ở dạng tự do (hiện tượng hypohydric), khiến men pepsinogen không được hoạt hóa đầy đủ thành pepsin để tiêu hóa protein, đồng thời làm mất đi hàng rào diệt khuẩn tự nhiên của dạ dày.
- Đặc điểm điều tiết thân nhiệt và miễn dịch: Lợn sơ sinh chứa 82% nước trong cơ thể, lớp mỡ dưới da mỏng, phản xạ điều nhiệt kém, dễ bị mất nhiệt khi gặp lạnh ẩm. Miễn dịch của lợn con hoàn toàn thụ động nhờ hấp thu $\gamma$-globulin từ sữa đầu (colostrum) qua cơ chế ẩm bào trong 24 giờ đầu sau khi sinh. Khi hàm lượng kháng thể sữa mẹ suy giảm cùng với tình trạng thiếu sắt sinh lý (do sữa mẹ không cung cấp đủ nhu cầu), sức đề kháng của lợn con suy giảm rõ rệt.
- Vi sinh vật học của E. coli: Trực khuẩn E. coli là vi khuẩn Gram âm, hiếu khí và kỵ khí tùy tiện, lên men sinh hơi nhiều loại đường (glucose, lactose, mannitol...), có cấu trúc kháng nguyên phức tạp gồm kháng nguyên thân O (nội độc tố, chịu nhiệt), kháng nguyên lông H (protein) và kháng nguyên vỏ K (polysaccharide). Khi gặp điều kiện bất lợi (stress lạnh, ẩm ướt, vệ sinh kém), các chủng E. coli cường độc bám dính vào niêm mạc ruột non, sản sinh độc tố ruột (enterotoxin) làm rối loạn vận chuyển ion và gây tiêu chảy cấp.
Phương pháp nghiên cứu và chỉ tiêu theo dõi
Nghiên cứu kết hợp giữa điều tra dịch tễ học hồi cứu, theo dõi lâm sàng trực tiếp tại chuồng trại và bố trí thí nghiệm so sánh phác đồ điều trị:
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Hồi cứu sổ sách theo dõi đàn của trang trại năm 2014 và 2015; quan sát trực tiếp lâm sàng hàng ngày trên các ổ lợn con sơ sinh, phát hiện phân tiêu chảy trên nền chuồng, kiểm tra thân nhiệt, trạng thái bú mẹ và mổ khám bệnh tích lợn chết.
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm so sánh 2 lô điều trị trên đàn lợn con giống Landrace (1 – 21 ngày tuổi) mắc bệnh phân trắng:
- Lô 1: 71 con, điều trị bằng thuốc Nor 100 (Norfloxacin 100%), liều lượng 1 ml / 6 kg thể trọng, tiêm bắp.
- Lô 2: 71 con, điều trị bằng thuốc Nova - Amcoli (Ampicillin + Colistin), liều lượng 1 ml / 6 kg thể trọng, tiêm bắp.
- Các chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ mắc bệnh (%), tỷ lệ chết (%), tỷ lệ chữa khỏi (%), tỷ lệ tái phát (%) và thời gian điều trị khỏi trung bình ($\bar{X}$, tính bằng ngày).
- Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ dữ liệu điều tra và thí nghiệm được tổng hợp, tính toán trên phần mềm Microsoft Excel 2010.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu thực tiễn chăn nuôi lợn tại tỉnh Hòa Bình. Xác định rõ mục tiêu gắn kết lý thuyết đào tạo chuyên ngành Thú y với thực hành sản xuất, nâng cao kỹ năng chẩn đoán, phòng bệnh và xác định phác đồ điều trị hiệu quả cho bệnh phân trắng lợn con.
Phần 2: Tổng quan nghiên cứu
Hệ thống hóa toàn diện các cơ sở lý luận về:
- Đặc điểm sinh trưởng, phát triển giải phẫu cơ quan tiêu hóa, cơ năng điều nhiệt và sự hình thành kháng thể thụ động của lợn con theo mẹ.
- Căn bệnh học, đặc tính sinh vật hóa học, cấu trúc kháng nguyên, độc tố và sức đề kháng của vi khuẩn E. coli.
- Triệu chứng lâm sàng ở hai thể bệnh chính (thể gây chết nhanh ở lợn 4 – 15 ngày tuổi với tỷ lệ chết 50% – 80% và thể kéo dài ở lợn trên 20 ngày tuổi), bệnh tích giải phẫu bệnh học và các nguyên lý chẩn đoán phân biệt với tiêu chảy do Rotavirus, Salmonella, Clostridium.
- Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp (vệ sinh thú y, bổ sung sắt Dextran-Fe, sử dụng chế phẩm sinh học Probiotic/EM, vắc-xin phòng bệnh) và tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước, quốc tế về bệnh lý này.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Quy định chi tiết đối tượng nghiên cứu (lợn con Landrace 1 – 21 ngày tuổi), địa bàn (trại lợn ông Trần Văn Tuyên, Hòa Bình), khung thời gian (tháng 5 đến tháng 11/2015), nội dung các bước điều tra dịch tễ, sơ đồ bố trí 2 lô thí nghiệm điều trị và hệ thống công thức toán học dùng để tính toán các chỉ tiêu bệnh học.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này được chia thành hai nội dung lớn:
- Kết quả công tác phục vụ sản xuất: Khảo sát cơ cấu đàn lợn của trại (tổng đàn tăng từ 1.230 con năm 2014 lên 1.384 con năm 2015; trong đó nái sinh sản năm 2015 là 1.085 con); xây dựng và thực hiện lịch tiêm phòng vắc-xin cho lợn con, hậu bị, nái chửa và lợn đực giống; hoàn thành an toàn 100% các thủ thuật chuyên môn (tiêm phòng LMLM cho 160 nái, tiêm sắt cho 760 lợn con, thiến 500 lợn đực, phối giống nhân tạo cho 510 lượt nái).
- Kết quả nghiên cứu đề tài: Phân tích chi tiết các chỉ số dịch tễ học bệnh phân trắng lợn con qua các năm, theo đàn, theo tháng và theo lứa tuổi; mô tả triệu chứng lâm sàng và bệnh tích mổ khám; so sánh kết quả điều trị và chi phí giữa phác đồ Nor 100 và Nova - Amcoli.
Kết quả và đóng góp
Các kết quả nghiên cứu chính kèm số liệu thực chứng
1. Tình hình dịch bệnh chung trên đàn lợn con theo mẹ (2014 – 2015):
Tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm và nội khoa trên đàn lợn con theo mẹ tại trang trại có xu hướng gia tăng rõ rệt giữa hai năm theo dõi.
| Tên bệnh |
Năm 2014 (n = 28.150 con) |
|
Năm 2015 (n = 30.150 con) |
|
|
Số con mắc (con) |
Tỷ lệ (%) |
Số con mắc (con) |
Tỷ lệ (%) |
| Hội chứng tiêu chảy |
3.670 |
12,74 |
5.089 |
16,87 |
| Viêm phổi |
936 |
3,25 |
1.236 |
4,09 |
| Các bệnh khác (viêm da, viêm khớp...) |
792 |
2,75 |
1.182 |
3,92 |
| Tổng số mắc |
5.398 |
18,74 |
7.507 |
24,89 |
Ghi chú: Riêng đối với bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi, năm 2014 ghi nhận 3.670 con mắc/28.800 con nuôi (12,74%), sang năm 2015 tăng lên 5.089 con mắc/30.150 con nuôi (16,87%), tăng 4,13%. Nguyên nhân do năm 2015 chuồng trại đã vận hành liên tục, áp lực mầm bệnh vi khuẩn tồn dư trong môi trường tăng cao và khâu vệ sinh tiêu độc chưa triệt để.
2. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng theo đàn nái sinh sản:
Khảo sát trên 54 đàn lợn nái sinh sản tại trại cho thấy có 29 đàn có lợn con mắc bệnh phân trắng, chiếm tỷ lệ 53,70%. Mức độ nhiễm dao động mạnh giữa các lô nái:
- Lô 1: 7/10 đàn mắc (70,00%)
- Lô 2: 4/12 đàn mắc (33,33%)
- Lô 3: 5/11 đàn mắc (45,45%)
- Lô 4: 5/10 đàn mắc (50,00%)
- Lô 5: 8/11 đàn mắc (72,72%)
3. Tỷ lệ mắc và tử vong theo các tháng theo dõi (n = 650 con theo dõi trực tiếp):
| Tháng theo dõi |
Số con theo dõi (con) |
Số con mắc (con) |
Tỷ lệ mắc (%) |
Số con chết (con) |
Tỷ lệ chết/mắc (%) |
| Tháng 6 |
130 |
30 |
23,07 |
3 |
10,00 |
| Tháng 7 |
130 |
25 |
19,23 |
0 |
0,00 |
| Tháng 8 |
130 |
27 |
20,76 |
1 |
3,70 |
| Tháng 9 |
130 |
28 |
21,53 |
1 |
3,57 |
| Tháng 10 |
130 |
32 |
24,61 |
4 |
12,50 |
| Tính chung |
650 |
142 |
21,84 |
9 |
6,33 |
Nhận xét: Tháng 7 có thời tiết ấm áp, khô ráo nên tỷ lệ mắc thấp nhất (19,23%) và không có lợn chết. Ngược lại, tháng 10 bước vào thời kỳ chuyển mùa đông, thời tiết lạnh và ẩm độ cao khiến tỷ lệ mắc tăng lên mức cao nhất (24,61%) và tỷ lệ chết đạt đỉnh (12,50%).
4. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng theo các lứa tuổi lợn con:
| Giai đoạn lứa tuổi |
Số theo dõi (con) |
Số mắc (con) |
Tỷ lệ mắc (%) |
Số chết (con) |
Tỷ lệ chết/mắc (%) |
| Sơ sinh – 7 ngày tuổi |
221 |
43 |
19,45 |
2 |
4,65 |
| 8 – 14 ngày tuổi |
217 |
52 |
24,29 |
4 |
7,69 |
| 15 – 21 ngày tuổi |
214 |
47 |
21,65 |
3 |
6,38 |
| Tính chung |
650 |
142 |
21,84 |
9 |
6,33 |
Nhận xét: Lợn con ở giai đoạn 8 – 14 ngày tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất (24,29%) và tỷ lệ chết cao nhất (7,69%). Đây là giai đoạn lợn con tăng trưởng nhanh, hàm lượng kháng thể thụ động từ sữa mẹ giảm dần, lượng sắt dự trữ cạn kiệt trong khi việc tập ăn bổ sung chưa bù đắp kịp thời.
5. Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích mổ khám ghi nhận:
- Triệu chứng lâm sàng: Lợn bệnh biểu hiện ủ rũ, giảm bú hoặc bỏ bú hẳn, đi lại xiêu vẹo, lông xù dựng đứng, da nhăn nheo, thân nhiệt ít tăng cao (cá biệt sốt 40,5°C – 41°C trong 24 giờ đầu rồi hạ). Phân lỏng nhiều lần trong ngày, màu trắng vôi, trắng xám xi măng hoặc vàng nâu, mùi tanh khắm đặc trưng, dính bết quanh hậu môn và hai chân sau.
- Bệnh tích mổ khám: Xác lợn gầy còm, mất nước nặng; gan màu nâu đen, túi mật sưng to chứa dịch mật loãng; lách không sưng, bóc vỏ thấy xuất huyết; dạ dày chứa cục sữa đông vón chưa tiêu và các nốt nhồi máu đen trên niêm mạc; ruột non trương phình, nhão, dãn to, niêm mạc ruột hoại tử từng đám và hạch màng treo ruột sưng to.
Đóng góp và giải pháp kỹ thuật đề xuất
- Cung cấp bức tranh dịch tễ học chuẩn xác về bệnh phân trắng lợn con trên địa bàn huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.
- Đề xuất quy trình chăm sóc - nuôi dưỡng và phòng bệnh đồng bộ: cho lợn con bú sữa đầu trong vòng 2 giờ sau sinh; tiêm bổ sung Fe + Vitamin B12 ở 2 – 3 ngày tuổi; thực hiện nghiêm ngặt quy trình vệ sinh chuồng nái đẻ, dùng đèn hồng ngoại sưởi ấm trong mùa đông và duy trì quạt thông gió, giàn mát mùa hè.
- Chứng minh hiệu quả can thiệp sớm bằng các thuốc kháng sinh đặc hiệu đường tiêm bắp (Norfloxacin hoặc Ampicillin + Colistin) giúp khống chế triệu chứng và giảm thiểu tổn thất kinh tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn tại một cơ sở chăn nuôi quy mô hộ gia đình (Trại ông Trần Văn Tuyên) trong khung thời gian 6 tháng, chưa phản ánh đầy đủ biến động dịch tễ qua chu kỳ nhiều năm và các mùa đông - xuân trọn vẹn.
- Nghiên cứu chưa tiến hành phân lập vi sinh vật chuyên sâu, chưa định danh các serotype kháng nguyên cụ thể của vi khuẩn E. coli tại phòng thí nghiệm cũng như chưa thực hiện kháng sinh đồ để đánh giá mức độ kháng thuốc của vi khuẩn đối với các nhóm kháng sinh mới.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi điều tra trên nhiều mô hình chăn nuôi trang trại tập trung và nông hộ khác nhau trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.
- Tiến hành phân lập các chủng E. coli thực địa để chế tạo vắc-xin tự thân (autogenous vaccine) đặc hiệu cho từng vùng chăn nuôi.
- Nghiên cứu kết hợp kháng sinh với các chế phẩm sinh học (Probiotic, Bacillus subtilis, chế phẩm EM) và liệu pháp bù nước điện giải nhằm rút ngắn thời gian điều trị và hạn chế tối đa hiện tượng nhờn thuốc.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận có giá trị thực tiễn và học thuật rõ ràng, là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên ngành Thú y, Chăn nuôi – Thú y: Cung cấp phương pháp luận chuẩn mực về bố trí thí nghiệm thực địa, kỹ thuật thu thập, xử lý số liệu dịch tễ học thú y và cấu trúc trình bày khóa luận tốt nghiệp.
- Kỹ sư chăn nuôi, bác sĩ thú y cơ sở: Tham khảo trực tiếp lịch trình tiêm phòng chi tiết cho đàn lợn (con, hậu bị, nái sinh sản, đực giống) và các phác đồ dùng thuốc điều trị tiêu chảy lâm sàng.
- Chủ trang trại chăn nuôi lợn: Nắm bắt quy luật phát sinh bệnh theo mùa và lứa tuổi để chủ động điều chỉnh nhiệt độ chuồng nuôi, giữ ấm lợn con và áp dụng biện pháp phòng bệnh bằng sữa đầu và tiêm sắt kịp thời.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao lợn con ở lứa tuổi 8 – 14 ngày tuổi lại có tỷ lệ mắc bệnh phân trắng cao nhất (24,29%)?
Giai đoạn 8 – 14 ngày tuổi là thời điểm tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng nhanh đột ngột, dẫn đến nhu cầu về dinh dưỡng và sắt tăng cao. Tuy nhiên, lượng kháng thể $\gamma$-globulin hấp thu thụ động từ sữa đầu đã giảm mạnh, lượng sắt dự trữ trong cơ thể cạn kiệt trong khi sữa mẹ bắt đầu giảm dần và lợn con mới bắt đầu tập ăn chưa bù đắp đủ. Sự thiếu hụt dinh dưỡng, thiếu máu cục bộ kết hợp với việc dịch vị chưa có HCl tự do khiến sức đề kháng của đường tiêu hóa suy giảm nghiêm trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho E. coli bùng phát gây bệnh.
2. Nguyên nhân nào khiến tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng tại trại năm 2015 (16,87%) cao hơn năm 2014 (12,74%)?
Năm 2014 là năm đầu tiên trại mới đi vào hoạt động, chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi còn mới nên mật độ vi khuẩn mầm bệnh tích tụ trong môi trường còn thấp. Đến năm 2015, trại đã vận hành sản xuất liên tục, tổng đàn nái tăng thêm 155 con khiến áp lực mầm bệnh E. coli tồn dư trong chuồng trại gia tăng. Mặc dù công nhân đã có kinh nghiệm hơn, nhưng khâu vệ sinh tiêu độc chuồng nái và hộ lý sau sinh chưa đảm bảo triệt để, kết hợp với biến động tiểu khí hậu chuồng nuôi đã làm tăng tỷ lệ nhiễm bệnh.
3. Biến động thời tiết ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết của lợn con trong các tháng theo dõi?
Số liệu theo dõi từ tháng 6 đến tháng 10/2015 cho thấy tỷ lệ bệnh có sự tương quan chặt chẽ với điều kiện thời tiết:
- Tháng 7 có khí hậu ổn định, khô ráo nên tỷ lệ mắc thấp nhất (19,23%) và không có lợn chết (0%).
- Tháng 10 khi thời tiết chuyển sang mùa đông, nhiệt độ hạ thấp và độ ẩm không khí tăng cao (gây stress lạnh ẩm), tỷ lệ mắc bệnh tăng lên cao nhất đạt 24,61% và tỷ lệ tử vong trên số con ốm lên tới 12,50%.
4. Bệnh tích giải phẫu bệnh học đặc trưng nhất khi mổ khám lợn con chết do bệnh phân trắng là gì?
Khi mổ khám lợn chết, các bệnh tích điển hình gồm có: xác khô kiệt do mất nước nghiêm trọng; gan chuyển màu nâu đen, túi mật sưng to chứa nhiều dịch mật loãng; dạ dày chứa nhiều cục sữa đông vón chưa tiêu cùng các nốt nhồi máu màu đen trên niêm mạc; toàn bộ ruột non trương nhão, dãn to, niêm mạc ruột non bị hoại tử từng đám và hạch màng treo ruột sưng to.
5. Lịch phòng bệnh bằng thuốc và vắc-xin cho lợn con theo mẹ tại trang trại được quy định như thế nào?
Quy trình phòng bệnh cho lợn con tại trại Trần Văn Tuyên gồm các mốc:
- 2 – 3 ngày tuổi: Tiêm bổ sung sắt Fe + Vitamin B12 (liều 2 ml/con) và tiêm phòng tiêu chảy bằng Nova-Amcoli (liều 2 ml/con).
- 3 – 6 ngày tuổi: Cho uống thuốc phòng bệnh cầu trùng Nova - Coc 5% (liều 2 ml/con).
- 7 – 21 ngày tuổi: Tiêm phòng vắc-xin phòng bệnh viêm phổi địa phương do Mycoplasma (liều 1 ml/con).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Triệu Thị Xuân đã phản ánh toàn diện tình hình dịch tễ học và thiệt hại do bệnh phân trắng gây ra trên đàn lợn con từ 1 đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi Trần Văn Tuyên (Hòa Bình). Kết quả nghiên cứu khẳng định bệnh có tỷ lệ mắc cao ở giai đoạn 8 – 14 ngày tuổi và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ yếu tố stress lạnh ẩm trong thời điểm chuyển mùa. Đồng thời, công trình cung cấp những số liệu thực chứng có giá trị về quy trình phòng bệnh tổng hợp bằng sữa đầu, tiêm sắt, kiểm soát tiểu khí hậu chuồng nuôi và hiệu quả ứng dụng kháng sinh trong điều trị thực địa.