Chương 1 TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm, cấu trúc, chức năng sinh lí của da [51] 1. Cấu trúc của da Cấu trúc của da gồm có 3 lớp: thượng bì, trung bì và hạ bì. Thượng bì Thượng bì là lớp ngoài cùng của da, gồm chủ yếu là tế bào biểu mô sừng (chiếm 95%), ngoài ra có tế bào hắc tố, Merkel và tế bào Langerhans.
Thượng bì có tác dụng như hàng rào bảo vệ da, gồm 4 lớp chính: lớp tế bào sừng, lớp hạt, lớp gai và lớp đáy (lớp tế bào mầm). Lớp tế bào đáy: là lớp sâu nhất thượng bì, gồm những tế bào hình trụ, nhân có trục dài, thẳng đứng. Các tế bào đáy có khả năng sinh sản mạnh mẽ để sản xuất các tế bào mới thay thế các tế bào cũ đã biệt hóa. Lớp tế bào gai: là lớp tế bào hình đa diện, nằm trên lớp đáy, từ 6-20 hàng, thành phần cấu tạo chứa hỗn hợp của lipid như phospholipid, sphingolipid và cholesterol giúp da giữ nước và tham gia vào quá trình gắn kết và bong vảy của lớp sừng.
Lớp tế bào hạt: là những tế bào dẹt nằm trên lớp gai, gồm 3-4 hàng tế bào, nhân sáng. Tế bào sáng chỉ có ở lòng bàn tay, bàn chân, nằm trên lớp hạt gồm những tế bào trong thuần nhất, không nhân, dẹt, sắp xếp thành 2 - 3 hàng. Lớp tế bào sừng: là lớp ngoài cùng của da, có bề dày khoảng 0,1mm. Thành phần chủ yếu là chất sừng (keratin).
Các tế bào thượng bì có tua: là tế bào sắc tố và tế bào Langerhans. Tế bào sắc tố là tế bào tua gai cung cấp sắc tố cho các tế bào sừng tạo màu da, chống lại tia cực tím (UV), kiểm soát tổng hợp vitamin D3 và điều hòa thân nhiệt tại chỗ. Tế bào Langerhans là tế bào trình diện kháng nguyên, có nguồn 4 gốc từ tủy xương, chiếm 5% tế bào thượng bì, nằm ở khắp thượng bì tạo hàng rào lưới, nhưng tập trung nhiều ở lớp tế bào gai phía trên… 1. Trung bì Trung bì là lớp thứ 2, nằm dưới thượng bì và là vùng dày nhất của da.
Trung bì và thượng bì ngăn cách nhau bởi màng đáy. Trung bì nông: là lớp nuôi dưỡng, rất mỏng chỉ khoảng 0,1mm. Trên bề mặt có những gai nhô lên còn gọi là nhú bì hay gai bì ăn sâu vào thượng bì. Trung bì chính thức (trung bì sâu): là lớp chống đỡ, dày, gồm những sợi keo làm da bền vững chống lại sang chấn, bảo vệ các tổ chức bên trong; sợi chun (sợi đàn hồi) giúp da đàn hồi; sợi lưới tạo thành mạng lưới mỏng bao quanh mạch máu, tuyến mồ hôi; sợi liên võng tập trung ở trung bì nông, phần phụ của da, mạch máu.
Các tế bào xơ có tác dụng làm da lên sẹo. Tổ chức bào hình thoi, hình sao, có thể biến thành thực bào, đại thực bào. Dưỡng bào tham gia quá trình chuyển hóa heparin, histamin, acid hyaluronic. Trung bì chỉ có những mạch máu nhỏ tập trung ở gai bì và quanh các tuyến.
Thần kinh não tủy có vỏ myelin, có nhánh đi riêng; Thần kinh giao cảm không có vỏ myelin chạy trong các bao mạch máu. Hạ bì Hạ bì còn gọi là lớp mỡ dưới da chứa mô liên kết, nhiều mạch máu, thần kinh, … đảm bảo cho da sống và thực hiện các chức năng. Cấu trúc gồm nhiều tầng ngăn, liên kết tạo thành nhiều ô, chứa nhiều chất mỡ. Ở hạ bì có nhiều mạch máu lớn.
Đây là kho dự trữ mỡ lớn nhất cơ thể, có vai trò bảo vệ cơ học chống sức ép, chấn động đột ngột, che chở da và những cấu trúc bên dưới, có vai trò điều hòa nhiệt độ. Các thành phần phụ của da Tuyến mồ hôi: là tuyến ngoại tiết, gồm 2 loại: tuyến bảo toàn được phân bố trên khắp bề mặt của da, trừ niêm mạc. Tuyến bảo toàn làm nhiệm vụ 5 điều hòa thân nhiệt, góp phần làm cho thân nhiệt hằng định; tuyến đầu hủy tập trung ở mặt, quanh hậu môn, đầu vú, nách. Tuyến bã: là tuyến ngoại tiết nằm cạnh nang lông, đổ chất tiết vào nang lông mở ra ở da, làm da mềm mại, chống thấm nước, chống khô da.
Nang lông: nang lông là phần lõm sâu xuống của thượng bì chứa sợi lông và tiếp cận với tuyến bã. Lông là biến dạng nhiễm keratin của thượng bì. Móng là biến dạng của da, ở các đầu ngón tay, ngón chân. Móng là một tấm sừng mỏng, có 4 bờ: bờ tự do, bờ sau và 2 bờ bên; có rễ móng, thân móng, liềm móng, mầm móng.
Niêm mạc: không có keratin. Các lớp nông ở niêm mạc gồm tế bào có nhiều lỗ hổng dẹt và bong đi chứ không nhiễm keratin, còn các lớp tế bào gai, lớp hạt giống như da nhưng dày hơn. Sinh lý da Da là cơ quan lớn nhất cơ thể người, diện tích khoảng 1,5-2 m2, chiếm 16% trọng lượng cơ thể. Da là một vỏ bọc bảo vệ cơ thể, da mang nhiều chức năng như hấp thu, dự trữ và chuyển hóa các chất, bài tiết các chất bảo vệ da (chất bã), đào thải các chất độc, thu nhận cảm giác, điều hòa thân nhiệt, cân bằng nội môi, chức năng miễn dịch.
Chức năng bảo vệ Da được cấu tạo bởi thượng bì, trung bì, hạ bì tạo thành bức tường kiên cố bảo vệ các cơ quan bên trong như thần kinh, mạch máu, cơ, xương, phủ tạng. khỏi các yếu tố có hại, khỏi các chấn thương cơ học. Bảo vệ khỏi các vi sinh vật: vi sinh vật kí sinh trên da luôn bị đào thải ra ngoài cùng tế bào sừng (do sự biệt hóa không ngừng của lớp tế bào thượng bì). Bề mặt da khô sạch, pH acid của da hạn chế sự sinh trưởng của vi sinh vật.
Một số enzyme tổng hợp tại da có tác dụng diệt hoặc hạn chế vi khuẩn 6 phát triển như lysozym diệt khuẩn, leucotaxin kích thích thực bào của bạch cầu, men tăng sinh bạch cầu, men tổng hợp huy động kháng thể. Bảo vệ khỏi những tổn thương vật lý: lớp sừng của da ngăn ánh sáng bước sóng 200nm; lớp trung bì ngăn ánh sáng bước sóng 340-700nm xuyên qua. Da có tính hấp thụ ánh nắng mặt trời bảo vệ cơ thể trước bức xạ tử ngoại. Bảo vệ khỏi những tổn thương do chất hóa học: lớp sừng bảo vệ một cách tương đối khi các chất hóa học xâm nhập, da có thể bảo vệ cơ thể tránh các chất hóa học có tính kiềm hoặc acid yếu.
Chống lại sự mất dịch của cơ thể: kết cấu đa tầng của da, liên kết chặt chẽ của lớp sừng với lớp mỡ gian bào có thể chống lại sự mất dịch của cơ thể. Chức năng điều hòa thân nhiệt Da điều hòa nhiệt độ, giữ cho thân nhiệt hằng định nhờ cơ chế ra mồ hôi và phản ứng vận mạch dưới sự điều khiển của trung khu điều hòa thân nhiệt ở vùng dưới đồi của não. Da tỏa nhiệt thông qua 4 phương thức: bốc hơi, đối lưu, bức xạ, truyền dẫn. Chức năng bài tiết Bài tiết mồ hôi Giữ vai trò bài tiết mồ hôi chủ yếu là tuyến mồ hôi (tuyến bảo toàn), có 2,5 triệu tuyến mồ hôi.
Bài tiết mồ hôi còn có nhiệm vụ đào thải các chất cặn bã, chất độc hại cho cơ thể. Bài tiết chất bã Bài tiết chất bã trên da giúp da không thấm nước, ngăn cản sự bốc hơi nước, làm da mềm mại, chống lại vi khuẩn, vi nấm, kí sinh trùng.Chức năng chuyển hóa Da đóng vai trò quan trọng trong hệ thống cân bằng nước, điện giải. Da tham gia quá trình chuyển hóa đạm, đường, mỡ. Da có các enzyme amylase, 7 cholinesterase, lipase, arginase, tyrosinase.
Da có nhiều loại vitamin như B12, A, C, D, B6 (pyridoxine), H (biotin), … 1.Chức năng thu nhận cảm giác chia ra làm 2 loại: Một loại cảm giác đơn nhất như tiếp xúc, cảm giác đau, lạnh hoặc nóng. Vùng nhạy cảm với cảm giác nóng lạnh là vú, ngực, bụng, mũi, tai. Cảm giác đau do tận cùng các dây thần kinh cảm giác đảm nhiệm. Một loại cảm giác khác phức tạp như cảm giác hình thể, phân biệt giữa hai điểm, định vị và hình họa, cảm giác ngứa.
Chức năng tạo sừng (keratin), tạo sắc tố (melanin) Đây là hai chức năng đặc biệt của tế bào thượng bì. Chất sừng, sắc tố giúp bảo vệ sự toàn vẹn và lành mạnh da, chống lại các tác động có hại của tác nhân sinh học (vi khuẩn, vi nấm, virus, kí sinh trùng), cơ học, lý học, hóa học. Chức năng miễn dịch Ở da có nhiều tế bào có thẩm quyền miễn dịch như tế bào Langerhans, tế bào Lympho T. Khi có kháng nguyên (vi khuẩn, virus, kí sinh trùng) đột nhập vào da, tế bào Langerhans xuất hiện bắt giữ và trình diện kháng nguyên với tế bào Lympho có thẩm quyền miễn dịch.
Tế bào sừng tiết ra interferon. Chức năng hô hấp Da có thể trực tiếp hấp thụ O2 trong không khí và có khả năng thải ra CO2 do các mạch máu nhỏ tiếp xúc trực tiếp với không khí, khả năng hô hấp của da mạnh hơn bất cứ cơ quan nào. Chức năng tạo ngoại hình và chủng tộc Mỗi chủng tộc khác nhau có màu da khác nhau, qui định là do lượng sắc tố và sự phân bố không đồng đều của các hạt sắc tố trong da là khác nhau. Da góp phần tạo ra hình hài con người chúng ta [51], [21].
Một số bệnh da phổ biến trong cộng đồng [9], [34] 1. Bệnh da do nấm sợi * Nấm bàn chân: Thường gặp ở những người lao động đi giầy, đi ủng…. Nguyên nhân chủ yếu do Trichophyton rubrum và T. mentagrophytes, có thể do Epidermophyton floccosum.
Lâm sàng nấm ở bàn chân có các hình thái: bong vảy, viêm kẽ, hình tổ đỉa, viêm móng. * Nấm bẹn thường do Epidermophyton inguinale, Trichophyton rubrum gây nên. Tổn thương là những chấm đỏ, có vảy, lan ra thành mảng hình tròn hoặc bầu dục, bề mặt đỏ, bờ hơi cao, trên bờ có nhiều mụn nước và vảy da. Các mảng liên kết với nhau thành mảng lớn hình cung, có triệu chứng ngứa.
* Nấm vùng mặt: do Trichophyton rubrum, T. canis gây nên. Lâm sàng thường là dát đỏ, kích thước 1-5 cm, bờ hơi nổi cao, bong vảy, ngứa. * Nấm thân mình: hay gặp nhất là Trichophyton rubrum, T.
Tổn thương là mụn nước, thành đám hình tròn hay hình cung, ngứa nhiều; khu trú hay lan toả toàn thân tuỳ thuộc vào vi nấm hay vật chủ… * Nấm vùng râu: hình thái nông do Trichophyton violaceum, T. Sợi râu gãy, bong vảy, nhổ lên chân vẫn bình thường; hình thái sâu do T. mentagrophytes, tạo các u nhỏ liên kết với nhau thành mảng thâm nhiễm, các áp xe. Da trên bề mặt viêm tấy, sợi râu rụng hoặc không có, mủ chảy ra qua lỗ chân râu.