ĐẶT VẤN ĐỀ Trong sinh quyển, rừng là một hệ sinh thái đảm bảo cho nông nghiệp và thuỷ lợi phát triển bền vững, là nhân tố quan trọng bảo vệ môi trường. Chiến lược lâm nghiệp toàn cầu giai đoạn 2000 – 2015, Hội nghị Lâm nghiệp FAO lần thứ 2 năm 1999, đã nhấn mạnh tầm quan trọng to lớn của rừng đối với việc tạo phúc lợi, việc làm, an toàn lương thực cho loài người và các thế hệ trong tương lai, vai trò của rừng với việc thiết lập hệ thống hỗ trợ cuộc sống của loài người trên toàn hành tinh. Hội nghị cũng quan tâm sâu sắc tới các thách thức to lớn của việc mất rừng nhanh chóng, quá trình thoái hoá tại nhiều vùng, đồng thời cũng nhấn mạnh việc cần thiết phải giữ gìn toàn vẹn rừng và các hệ sinh thái trên phạm vi toàn cầu 1. Thập kỷ 70 của thế kỷ XX cho đến ngày nay, rừng bị suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng.
Hiện tượng rừng bị suy thoái là do có rất nhiều nguyên nhân khác nhau như: kinh doanh rừng không hợp lý, khai thác rừng bừa bãi, du canh du cư, đốt rừng làm nương rẫy, công tác phòng chống cháy rừng chưa tốt… Một trong những nguyên nhân không kém phần quan trọng là công tác bảo vệ rừng, phòng chống sâu bệnh hại chưa được quan tâm đúng mức. Hàng năm có hàng nghìn ha rừng, đặc biệt là rừng trồng bị các trận dịch sâu bệnh tàn phá, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển của rừng mà chưa có biện pháp phòng trừ hữu hiệu. Để khắc phục thực trạng trên, nhiệm vụ chính và quan trọng của ngành Lâm Nghiệp cũng như toàn xã hội phải bảo vệ và duy trì vốn rừng hiện có, đi đôi với công tác cải tạo và xây dựng vốn rừng. Đảng và nhà Nước có chiến lược phát triển ngành Lâm nghiệp giai đoạn 2001 – 2010 nhằm đẩy nhanh tốc độ trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ vốn rừng.
Phấn đấu đến năm 2010 nâng độ che phủ của rừng lên 43% diện tích cả nước 2. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Sau 5 năm thực hiện chiến lược phát triển Lâm Nghiệp, đến năm 2005 cả Nước đã nâng được độ che phủ của rừng lên 37%, với tổng diện tích rừng là 12. Công tác chọn loài cây trồng phù hợp với mục đích kinh doanh và yêu cầu phòng hộ là một vấn đề quan trọng, trong đó cây keo được coi là một trong các loài cây trồng chủ yếu cùng với bạch đàn và thông ở các chương trình, dự án tạo rừng. Keo là một trong những loài cây chủ đạo của chương trình phát triển bền vững tài nguyên rừng và ổn định cuộc sống của người dân miền núi.
Theo thống kê của Viện Điều tra qui hoạch rừng, đến năm 2005 nước ta trồng được 2.000 ha rừng, trong đó tỉnh Tuyên Quang trồng được 81.197,1 ha rừng và chủ yếu trồng các loài cây nhập nội như keo, bạch đàn, thông…. Diện tích rừng trồng keo của toàn tỉnh đạt được khoảng 80% so với diện tích rừng trồng các loài cây khác 3. Keo là loài cây có phạm vi sinh thái rộng, thích ứng với các điều kiện lập địa khác nhau, sinh trưởng tốt trên đất trống đồi núi trọc, đất Feralit nghèo, tầng đất mỏng, tỷ lệ đá lẫn tương đối cao, có khả năng đảm bảo thành công trong công tác trồng rừng và đã được khẳng định. Là loài cây sử dụng chủ yếu trong chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải tạo đất.
Keo có giá trị lớn về mặt kinh tế và môi trường, có giá trị sử dụng nhiều mặt, chúng cung cấp nguyên vật liệu cho ngành sản xuất giấy, ngành xây dựng. Gỗ keo được sử dụng trong công nghiệp chế biến ván dăm, làm đồ gia dụng, … Lá và hạt keo được dùng trong công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, lá keo còn được sử dụng trong công nghiệp chế biến phân vi sinh, … Keo giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường sinh thái, chống xói mòn, bảo vệ đất, giữ và điều tiết nguồn nước. Keo còn được trồng tạo cảnh quan trong các khu du lịch, danh lam thắng cảnh như trong các chương trình, dự án xây dựng làng sinh thái, trường sinh thái, … LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Hiện nay công tác tạo rừng Keo kinh doanh gặp phải nhiều khó khăn trong việc bảo vệ rừng, sâu bệnh hại thường xuyên xảy ra ở vườn ươm và rừng trồng, ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng rừng. Những thập kỷ gần đây bên cạnh những loài sâu nâu ăn lá keo, sâu túi nhỏ hại lá keo, sâu cuốn lá, sâu đục lá, … thì bệnh hại cây keo cũng xuất hiện khá nhiều và chia làm hai loại là bệnh hại lá và bệnh hại thân cành: bệnh hại lá gồm bệnh phấn trắng, bệnh bồ hóng, bệnh đốm lá do tảo, bệnh đốm lá do nấm.
Bệnh hại thân, cành keo gồm có bệnh phấn hồng, bệnh loét thân cành và bệnh rỗng ruột, chúng gây tác hại nghiêm trọng ở các tỉnh trong cả nước, có nơi tỷ lệ cây bị ngọn chết lên đến 90% 44. Bệnh có thể làm cây chết với diện tích lớn ở các khu rừng trồng. Trong các loại bệnh hại phổ biến, nghiêm trọng và nguy hiểm nhất gần đây là bệnh hại thân, cành keo. Bệnh hại thân cành keo là bệnh nguy hiểm ở các tỉnh Tuyên Quang, Hoà Bình, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Lâm Đồng, Kon Tum và Thừa Thiên Huế… gây ảnh hưởng lớn đến sản lượng và chất lượng rừng trồng, bệnh có thể làm cho cây chết trên diện tích lớn.
Tuy nhiên cho đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu và số liệu thống kê cụ thể về bệnh hại này. Để có thể ngăn chặn, hạn chế sự phát dịch của bệnh, yêu cầu phải tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, đặc điểm sinh thái học và sinh vật học của vật gây bệnh làm cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp phòng trừ và quản lý dịch bệnh có hiệu quả. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bệnh hại thân, cành keo lai (Acacia hybrid) và Keo tai tượng (Acacia mangium) tại Tuyên Quang và đề xuất biện pháp quản lý dịch bệnh theo hướng phòng trừ tổng hợp” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Trên thế gới 1. Nghiên cứu về bệnh hại cây rừng Bệnh cây rừng đã được bắt đầu nghiên cứu trên 150 năm nay, là một môn khoa học còn rất non trẻ nhưng sự cống hiến cho công tác nghiên cứu khoa học, phục vụ cho đời sống sản xuất thực tiễn của các nhà bệnh cây hết sức to lớn.
Năm 1874 ở châu Âu, Robert Hartig (1839-1901) là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu môn khoa học bệnh cây rừng. Ông đã phát hiện ra sợi nấm nằm trong gỗ và công bố nhiều công trình nghiên cứu, đến nay đã trở thành môn khoa học không thể thiếu được. Kể từ đó đến nay trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh lý cây rừng như: G.Hapting nhà bệnh lý cây rừng người Mỹ trong 30 năm nghiên cứu bệnh cây (1940-1970), đã đặt nền móng cho công việc điều tra chủng loại và mức độ bị hại liên quan tới sinh lý, sinh thái cây chủ và vật gây bệnh 19. Những năm ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, nhiều nhà bệnh cây đã tập trung vào việc xác định loài, mô tả nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát sinh, phát triển của bệnh.
Đặc biệt ở các nước nhiệt đới, L. Trong đó có một số bệnh hại lá của thông, keo, bạch đàn … 66. John Boyce năm 1961 xuất bản sách Bệnh cây rừng (Forest pathology) đã mô tả một số bệnh hại cây rừng. Cuốn sách này được xuất bản ở nhiều nước như: Anh, Mỹ, Canada 58.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nghiên cứu về bệnh hại keo Với tổng số trên dưới 1200 loài, chi keo Acacia là một chi thực vật quan trọng đối với đời sống xã hội của nhiều nước (Boland, 1989; Boland et al. Theo các ghi chép của Trung tâm giống cây rừng Ôxtrâylia (dẫn từ Maslin và McDonald, 1996) thì các loài keo Acacia của Ôxtrâylia đã được gây trồng ở trên 70 nước với diện tích khoảng 1.000 ha vào thời điểm đó. Nhiều loài trong số đó đã đáp ứng được các yêu cầu về sử dụng cho các mục tiêu công nghiệp, xã hội và môi trường.
Các loài có tiếng về cung cấp nguyên liệu gỗ và bột giấy là keo lá tràm (A. auriculiformis), keo lá liềm (A. crassicarpa), keo tai tượng (A. mangium), keo đa thân (A.
còn các loài khác như A.tumida lại có tiềm năng cung cấp gỗ củi, chống gió và hạt làm thức ăn cho người ở một số vùng (Cossalter, 1987; House and Harwood, 1992) 36. Năm 1961 – 1968 John Boyce, nhà bệnh cây rừng người Mỹ đã mô tả một số bệnh cây rừng, trong đó có bệnh hại keo 58. Năm 1953 Roger đã nghiên cứu một số bệnh hại trên cây bạch đàn và keo. Brown (người Anh, 1968) cũng đề cập đến một số bệnh hại keo 66, 57.
Cây trồng bị khô héo, rụng lá và tàn lụi từ trên xuống dưới (chết ngược) do loài nấm hại lá Glomerlla cingulata (giai đoạn vô tính là nấm Colletotrichum gleosporioides.) đó là nguyên nhân chủ yếu của sự thiệt hại với loài keo Acacia mangium trong vườn giống ở Papua New Guinea (FAO 1981) và Ấn Độ. Theo nghiên cứu của Lee và Goh năm 1989 loài nấm này còn gây hại với các loài Acacia ssp. Đặc biệt dưới điều kiện khí hậu ẩm ướt lá và thân cây keo bị bệnh nguyên nhân do loài Cylindroladium quinqueseptatum (theo nghiên cứu của Mohaman và Shaama 1988). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Nhiều nhà nghiên cứu của Ấn Độ, Malaysia, Philipin, Trung Quốc cũng được công bố nhiều loại nấm bệnh gây hại các loài keo như các công trình của Vannhin, L.
Tại hội nghị lần thứ III nhóm tư vấn nghiên cứu và phát triển của các loài Acacia, họp tại Đài Loan cuối tháng 6 năm 1964 nhiều đại biểu kể cả các tổ chức Quốc tế như CIFOR (Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế) cũng đã đề cập đến các vấn đề sâu bệnh hại các loài Acacia. (Ấn Độ) đã xem xét nghiên cứu vùng trồng Keo lá tràm ở Kalyani Nadia và đã phát hiện nấm bồ hóng Oidium sp. gây hại trên cây non từ 1-15 tuổi.J và đồng nghiệp (1982-1985) ở viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Kerela Ấn Độ đã phát hiện ra bệnh phấn hồng do nấm Corticium salmonicolor gây hại trên vùng trồng A. auricuformis bang Kerela, tỷ lệ cây chết khoảng 10%.
Trong thực tế có một số nấm bệnh đã được phân lập từ một số loài keo.