Đặt vấn đề Tại Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ và một số nƣớc châu Á là các nƣớc có nền y học cổ truyền gắn liền với sử dụng các vị thuốc từ thảo dƣợc, dƣợc liệu để phòng, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho con ngƣời. Việt Nam là một nƣớc có nguồn thực vật cũng nhƣ cây thuốc rất phong phú. Theo dự đoán của các nhà thực vật học, Việt Nam có khoảng 12000 loại cây, trong đó có khoảng 6000 loài cây thuốc mà ta đã phát hiện. Trong số đó có khoảng 3900 loại sử dụng trong dân gian là chính, 800 loài đƣợc sử dụng trong y học cổ truyền, trong đó có từ 200 đến 300 loài đã đƣợc sử dụng trong công nghiệp dƣợc, một số loài đƣợc trồng nhƣ: giảo cổ lam, ngƣu tất, diệp hạ châu, hà thủ ô đỏ, xạ can, đinh lăng… Mặt khác, thị trƣờng Việt Nam về thuốc và dƣợc liệu đang phát triển mạnh.
Hơn nữa, hiện nay đang có xu hƣớng sử dụng các sản phẩm thiên nhiên từ thảo dƣợc nên các sản phẩm từ thảo dƣợc rất đƣợc ƣa chuộng. Việt Nam vốn có ƣu thế về nguồn thực vật phong phú, kinh nghiệm dân gian và cổ truyền. Tuy nhiên theo thống kê của cục quản lý dƣợc, chỉ có khoảng 30% thuốc từ dƣợc liệu đƣợc đăng ký trong nƣớc, hơn 90% nguồn nguyên liệu sản xuất trong nƣớc là nhập khẩu từ Trung Quốc và các nƣớc ngoài. Vì vậy, cần chú trọng phát huy các dƣợc liệu đặc hữu, có tiềm năng của Việt Nam.
Song song với đó là cần đƣa ra các biện pháp phòng trừ các bệnh hại tồn tại trên cây dƣợc liệu để có năng suất tốt nhất. Cây dƣợc liệu đƣợc biết đến là nguồn nguyên liệu thiên nhiên bổ phẩm trƣờng sinh cung cấp năng lƣợng và sức mạnh điều trị các căn bệnh nguy hiểm, có tác dụng lâu dài. Giảo cổ lam đƣợc biết đến nhƣ là một cây thuốc quý trong Tây y lẫn Y học cổ truyền, đƣợc ví nhƣ cây thuốc trƣờng sinh bởi có rất nhiều tác dụng tốt cho sức khỏe con ngƣời. Giảo cổ lam là một loài cây thảo có thân mảnh, leo nhờ tua cuốn đơn ở nách lá.
Lá đơn xẻ chân vịt rất sâu trông nhƣ lá kép chân vịt. Cây mọc ở độ cao 200-2000 m, trong các rừng thƣa và ẩm ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Indonesia, Triều Tiên và một số nƣớc châu Á khác. 1 Thành phần hóa học chính của giảo cổ lam là flavonoit và saponin. Số lƣợng saponin của Giảo cổ lam nhiều gấp 3-4 lần so với nhân sâm.
Trong đó, một số có cấu trúc hoá học giống nhƣ cấu trúc có trong nhân sâm (ginsenozit). Ngoài ra Giảo cổ lam còn chứa các vitamin và các chất khoáng nhƣ selen, kẽm, sắt, mangan, phốtpho. Giảo cổ lam có vị ngọt đắng, có tính hàn, ích khí tiện tì, thanh nhiệt giải độc. Giảo cổ lam có khả năng chống ôxy hóa tế bào, làm thuốc hạ cholesteron, thải độc trong cơ thể, chống viêm gan, chứng cao huyết áp, tim mạch, ho hen, viêm khí quản mạn, đau đầu, mất ngủ, đái tháo đƣờng.
Giảo cổ lam kìm hãm sự tích tụ tiểu cầu, làm tan cục máu đông, chống huyết khối, tăng cƣờng lƣu thông máu lên não, kìm hãm sự phát triển của khối u. Trong tự nhiên, Giảo cổ lam đƣợc tìm thấy ở một số địa phƣơng thuộc vùng đồi núi phía Bắc. Và là một cây đƣợc liệu có công dụng đa dạng, nên nhu cầu sử dụng của con ngƣời ngày càng cao. Điều này dẫn tới việc nên mở rộng sản xuất, tìm kiếm những biện pháp phòng và trừ sâu bệnh hại trên cây trồng nhằm tăng năng suất phục vụ nhu cầu con ngƣời.
Với mong muốn góp phần nâng cao năng suất cũng nhƣ hiệu quả kinh tế, dƣới sự hƣớng dẫn của TS. Phan Thúy Hiền, Bộ môn Canh tác và Bảo vệ Thực vật, Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội cùng sự đồng hƣớng dẫn của PGS. Nguyễn Xuân Cảnh – Bộ môn Công nghệ Vi sinh, Khoa Công nghệ Sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bệnh hại và biện pháp phòng trừ trên cây giảo cổ lam (Gynostemma pubescens (Gagnep. thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae)) tại Tam Đảo – Vĩnh Phúc.
Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Xác định tên và một số đặc điểm của nấm gây bệnh hại trên cây giảo cổ lam, phát sinh, phát triển của bệnh và đề xuất biện pháp phòng trừ bệnh. Yêu cầu Điều tra diễn biến của bệnh hại chính gây hại Giảo cổ lam 2 Phân lập và giám định tác nhân gây bệnh trên Giảo cổ lam Nghiên cứu một số đặc điểm của tác nhân gây bệnh chính trên Giảo cổ lam Khảo sát hiệu lực của một số thuốc đối với nấm gây bệnh hại chính trên Giảo cổ lam. 3 PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Đặc điểm thực vật, điều kiện sinh thái, giá trị sử dụng và công dụng của giảo cổ lam Giảo cổ lam có tên khoa học Gynostemma pubescens (Gagnep. thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae). * Đặc điểm thực vật: Cây thảo mọc leo. Thân không có lông, đốt thân có tua cuốn.
Lá kép có cuống chung dài 3 – 4 cm, mép lá có răng cƣa, phiến lá có 5 – 7 lá chét dài 3 – 9 cm, rộng 1,5 – 3 cm. Hoa đơn tính khác gốc, hoa nhỏ hình sao, bao hoa rất ngắn, cánh hoa rời nhau dài 2,5 mm. Bộ nhị gồm 5 nhị dính với nhau. Hoa cái tƣơng tự hoa đực, bầu có 3 vòi nhụy.
Quả khô, tròn, kích thƣớc 5 – 9 mm, màu đen. Quả có 2 – 3 hạt nhỏ. * Điều kiện sinh thái: Giảo cổ lam là cây ƣa ẩm, ƣa bóng. Cây giảo cổ lam có thể phát triển ở hầu hết các vùng khí hậu nhƣng tốt nhất là ở các vùng khí hậu mát, ẩm.
Cây có khả năng chịu lạnh khá tốt, có thể sinh trƣởng, phát triển bình thƣờng trong khoảng nhiệt độ thấp từ -100C đến -50C. Cây có thể sinh trƣởng, phát triển trên rất nhiều loại đất nhƣ đất cát, đất mùn, đất thịt. Đất trồng cần thoát nƣớc tốt nhƣng phải giữ đƣợc ẩm. Đất giàu dinh dƣỡng đặc biệt là đạm.
Giảo cổ lam mọc rải rác ở vùng đất núi đá vôi hoặc trên đất núi lửa, ở độ cao trên 2000m ( Viện Dƣợc liệu, 2013. Ở Miền Bắc Việt Nam cây đƣợc trồng sản xuất ở một số vùng có khí hậu mát mẻ nhƣ Tam Đảo – Vĩnh Phúc, Sa Pa – Lào Cai, Cao Bằng, Yên Bái… Giảo cổ lam trong tự nhiên tái sinh bằng hạt và thân. * Giá trị sử dụng: Bộ phận sử dụng của Giảo cổ lam chủ yếu là toàn bộ phần thân trên mặt đất, băm nhỏ, phơi khô, trong đó lá là bộ phận có hàm lƣợng saponin cao nhất. 4 * Công dụng: toàn cây băm nhỏ, phơi khô nấu nƣớc uống có tác dụng bổ dƣỡng, cƣờng tráng; dùng làm thuốc chữa viêm khí quản, viêm gan, viêm thận, loét dạ dày và hành tá tràng; giải độc, chữa ho và long đờm; chống bệnh béo phì.
Theo sách Kỹ thuật trồng cây thuốc của Viện dƣợc liệu (2013) thì Giảo cổ lam có tác dụng chống oxy hóa tế bào, làm thuốc hạ cholesterol, thải độc trong cơ thể, chống viêm gan, chứng cao huyết áp, tim mạch, ho hen, viêm khí quản mạn, đau đầu, mất ngủ, đau nửa đầu, đái tháo đƣờng. Giảo cổ lam kìm hãm sự tích tụ tiểu cầu, làm tan cục máu đông, chống huyết khối, tăng cƣờng lƣu thông máu lên não và kìm hãm sự phát triển của khối u. Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học, tác dụng sinh học, phƣơng pháp chiết suất và bào chế đã tạo cơ sở cho việc sản xuất nhiều chế phẩm Giảo cổ lam dƣới dạng thực phẩm chức năng nhƣ: Trà túi lọc, Cốm, Viên hoàn của công ty TNHH Dƣợc phẩm Tuệ Linh, Công ty cổ phần Y Dƣợc và Đầu tƣ thƣơng mại Sông Đà, Công ty Dƣợc phẩm Á Đông,… Các sản phẩm từ Giảo cổ lam đƣợc lƣu thông rộng rãi trên thị trƣờng nhƣ Giảo cổ lam Tuệ Linh, Giảo cổ lam Thiên Bảo, Giảo cổ lam Ba Tri, Giảo cổ lam Tam Đảo…Các sản phẩm từ Giảo cổ lam cũng đƣợc lƣu thông nhiều tại các nƣớc châu Á nhƣ Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan,.; châu Âu, Mỹ. Tại một số tỉnh vùng núi phía Bắc nƣớc ta, đồng bào dân tộc thiểu số còn thu hái Giảo cổ lam về dùng nấu nƣớc uống hàng ngày, hoặc thu phần thân non để làm thực phẩm.
Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc 2.1 Tình hình sản xuất và sử dụng cây dƣợc liệu trên thế giới Trong số 350000 loài thực vật đƣợc xác định cho đến nay, khoảng 35000 (một số ƣớc tính lên đến 70000 đƣợc sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới vì mục đích y học và khoảng dƣới 0,5% đã đƣợc điều tra về mặt hóa học. Các số liệu đƣợc công bố khác nhau trong các báo cáo khác nhau. Khoảng 100 loài cây thuốc tham gia vào thành phần 25% số thuốc đƣợc kê toa ở các nƣớc tiên tiến và giá trị thị trƣờng hàng năm của các loại thuốc thảo dƣợc đƣợc sử dụng trên toàn thế giới ƣớc tính vào khoảng 45 tỷ USD vào năm 1996, hiện nay con số này có thể tăng lên rất 5 nhiều. Thị trƣờng dƣợc phẩm và thuốc thảo dƣợc toàn cầu ƣớc tính đạt 800 tỷ USD mỗi năm.
Hơn 8000 loài thực vật đƣợc biết đến với đặc tính dƣợc liệu của chúng ở Châu Á Thái Bình Dƣơng và khoảng 10% trong số đó đƣợc sử dụng thƣờng xuyên, hầu hết đƣợc thu thập từ tự nhiên. Ví dụ, ƣớc tính có khoảng 7500 loài thực vật có ở quần đảo Indonesia, trong đó chỉ có khoảng 187 loài đƣợc sử dụng làm vật liệu cơ bản trong các ngành dƣợc phẩm truyền thống. Tại Trung Quốc đã có báo cáo về hơn 4000 loài cây dƣợc liệu. Tại Ấn Độ, khoảng 2500 loài đƣợc sử dụng cho mục đích y học và khoảng 90% các cây thuốc cung cấp nguyên liệu cho các dƣợc phẩm thảo dƣợc, đƣợc thu thập từ môi trƣờng sống hoang dã (Rajasekharan và Ganeshan, 2002).
Hiện có nhiều quốc gia đã chủ động phát triển các vùng trồng dƣợc liệu, tuy nhiên trong thực tế đã gặp không ít khó khăn về khách quan và chủ quan đã làm hạn chế công tác phát triển dƣợc liệu chung trên thế giới, trong đó có nguyên nhân hết sức quan trọng là sự phát sinh phát triển của sâu bệnh hại trên các đối tƣợng cây làm thuốc, đã gây thiệt hại nghiêm trọng nhiều diện tích sản xuất dƣợc liệu và hạt giống, làm thiệt hại đáng kể về chất lƣợng lẫn năng suất cây trồng sau thu hoạch.