ĐẶT VẤN ĐỀ Cây ăn quả có múi nói chung (cam, quýt, chanh, bưởi…) thuộc bộ Rutales, họ Rutaceae, họ phụ Aurantibideae (Nguyễn Hữu Đống, 2003; Dự án phát triển chè và cây ăn quả, 1996) là nhóm cây ăn quả có múi quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta. Nghề trồng cây ăn quả mang lại giá trị kinh tế lớn và đóng góp không nhỏ vào nguồn thu của quốc gia từ đó làm giàu cho đất nước. Cây ăn quả có múi mang lại giá trị dinh dưỡng cao nên nó là thực phẩm được rất nhiều người ưu chuộng và sử dụng. Thành phần thịt quả có chứa 6 – 12 % đường ( chủ yếu là đường Saccaroza), hàm lượng vita min C có từ 40 – 90 mg/100g quả tươi và các axit hữu cơ từ 0,4 – 1,2 %, trong đó nhiều chất có hoạt tính sinh học cao cùng với các chất khoáng và dầu thơm ( Hoàng Ngọc Thuận 2000; Phạm Văn Duệ, 2005).
Do cây ăn quả có múi mang lại giá trị dinh dưỡng cao nên được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như trong công nghiệp chế biến thức ăn, công nghiệp chế biến nước giải khát hoặc được dùng làm đồ ăn trong các bữa ăn trong các bữa ăn hàng ngày,. Ngoài ra một số bộ phân của cây có múi còn dùng để làm thuốc như quả, lá, rễ bưởi dùng để chữa bệnh cao huyết áp ( Phạm Văn Duệ, 2005). Ở Việt Nam nghề trồng cây ăn quả đã có từ lâu đời. Trong những năm gần đây do giá trị kinh tế của cây ăn quả lớn nên diện tích ngày một tăng.
Theo Hoàng Ngọc Thuận, 2000 năm 1994 diện tích cây có múi cả nước khoảng 60.000 ha, đến năm 2011 diện tích cây ăn quả có múi ở Việt Nam đạt 124.057 ha, trong đó diện tích trồng cam quýt là 70.000 ha, chanh là 18. Tại tỉnh Hòa Bình cây ăn quả cũng được người dân trồng từ lâu, đặc biệt là cây cam, bưởi. Trong những năm qua thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp của Chính phủ và chủ trương phát triển cây trồng có giá trị kinh tế cao nên diện tích cây ăn quả nói chung và diện tích cây ăn quả có múi nói riêng ngày một tăng. Theo số liệu thống kê của tỉnh năm 2010 diện tích cây ăn quả có múi đạt 1.240 ha, 2011 diện tích 1.376 ha, 2012 diện tích 1.414 ha, đến năm 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2014 diện tích đạt 2.
Trong đó diện tích cây cam, quýt đạt 1.774 ha, diện tích cây bưởi đạt 875 ha. Do diện tích cây ăn quả có múi ngày càng tăng tại tỉnh Hòa Bình cộng với việc người dân đầu tư thâm canh và sự đa dạng về thời tiết là điều kiện thích hợp cho nhiều loài sâu bệnh phát sinh gây hại như nhện đỏ, sâu vẽ bùa, rệp sáp, bệnh loét, bệnh sẹo, greening,. Trong những đối tượng sâu bệnh hại trên thì năm 2014 tại các vùng trồng cây ăn quả có múi xuất hiện bệnh đốm trên quả. Bệnh gây hại trên cây cam, chanh, bưởi nhưng chủ yếu gây hại nặng trên cây bưởi.
Dựa theo triệu chứng và hình thái nấm, ban đầu bệnh được chẩn đoán là bệnh đốm đen (black spot) do nấm Phyllosticta citricarpa (giai đoạn hữu tính Guignardia citricarpa) gây ra. Tuy nhiên dựa trên phân tích trình tự gen của các mẫu nấm Phyllosticta thu thập trên cây có múi tại châu Á, bao gồm cả Việt Nam, nấm gây bệnh tại khu vực này đã được xác định là một loài mới, có tên là Phyllosticta citriasiana (Wulandari et al. Triệu chứng vết đốm do nấm P. citriasiana giống với bệnh đốm đen nhưng màu vết đốm nhạt hơn nên bệnh được đặt tên là bệnh đốm nâu (tan spot) (Wulandari et al.
Mặc dù nghiên cứu về bệnh đốm đen (P. citricarpa) trên thế giới khá đầy đủ nhưng có rất ít nghiên cứu về bệnh đốm nâu (P. Cho tới nay (2016), mới chỉ có 2 công bố trên thế giới về bệnh đốm nâu trên cây có múi. Nghiên cứu đầu tiên là định danh lại loài P.
citriasiana trên cây có múi tại châu Á, kể cả Việt Nam (Wulandari et al. Nghiên cứu thứ hai khẳng định bệnh đốm quả/lá trên cây bưởi tại Trung Quốc, đặc biệt là các tỉnh phía Nam, là bệnh đốm nâu chứ không phải đốm đen (Wang et al. Tại Việt Nam, bệnh đốm nâu (P. citriaciana) đã được quan sát thấy rất phổ biến trên bưởi Phúc Trạch tại Hà Tĩnh (năm 2008) và có xu hướng ngày càng lan rộng.
Như đã trình bày ở trên, bệnh hiện đang phổ biến trên cây có múi, đặc biệt là bưởi, tại tỉnh Hòa Bình. Mặc dù nguyên nhân gây bệnh đốm nâu tại Việt Nam đã được xác định là do nấm P. citriasiana gây ra (Wulandari et al., 2009) nhưng trong nước chưa có công trình nghiên cứu về bệnh đốm nâu trên cây có múi để giảm những thiệt hại do bệnh gây ra. Trước tình hình trên và do cây có múi là một trong những cây trọng điểm của tỉnh Hòa Bình, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bệnh đốm nâu do nấm Phyllosticta citriasiana trên cây có múi tại tỉnh Hòa Bình”.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU 1. Mục đích Đánh giá được hiện trạng bệnh đốm nâu do nấm Phyllosticta citriasiana tại các vùng trồng cam quýt chính tại Hòa Bình và xác định được khả năng phòng trừ bệnh. Yêu cầu • Điều tra tình hình bệnh tại các vùng trồng cây có múi chính Hòa Bình • Nghiên cứu về đặc điểm hình thái và nấm gây bệnh • Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của nấm • Tìm hiểu khả năng phòng trừ bằng biện pháp hóa học 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÂY CÓ MÚI TẠI VIỆT NAM VÀ HÒA BÌNH 2. Tình hình sản xuất cây có múi tại Việt Nam Ở Việt Nam cây có múi (cam, chanh, quýt, bưởi) là những loại cây ăn quả có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, được xác định là một trong những cây ăn quả chủ lực trong việc phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. Trước đây người dân chủ yếu trồng cây có múi để phục vụ nhu cầu gia đình, bản thân.
Nhưng từ những năm 90 trở lại đây diện tích cây có múi ngày càng được mở rộng, nhiều hộ dân đã sản xuất với quy mô lớn để kinh doanh. Cây có múi được trồng ở hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước, nhưng chủ yếu tập trung trồng tại hai miền là Trung du miền núi phía Bắc và Nam Bộ, phát triển mạnh nhất tại vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ở các tỉnh miền núi phía Bắc và đồng bằng sông Hồng là địa phương có nhiều tiềm năng cho việc phát triển cam quýt. Nước ta nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, đất đai màu mỡ, nguồn nước và nhân lực dồi dào, đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cây ăn quả nói chung và cây có múi nói riêng.
Tuy vậy sản xuất cây có múi của nước ta vẫn còn phát triển chậm, manh mún, trình độ của người sản xuất còn thấp. Tuy diện tích tăng chậm nhưng năng suất luôn được cải thiện, nên sản lượng cũng được tăng đáng kể. Số liệu sơ bộ năm 2010 cho thấy sản lượng quả có múi có thể đạt 1,3 triệu tấn ( Tổng cục Thống kê, 2010). Theo Niên giám thống kê của Tổng cục thống kê năm 2005 diện tích cây có múi của cả nước là 87.200 ha với năng xuất đạt 100,9 tạ/ ha, sản lượng đạt 606.
Biến động về diện tích, năng xuất và sản lượng cây có múi của cả nước và miền Bắc từ năm 2001 đến 2005 được thể hiện tại bảng 2. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Diện tích, năng xuất, sản lượng cây ăn quả có múi của cả nước và miền Bắc 2001 – 2005 Chỉ tiêu Diện tích Năng xuất Sản lượng (ha) ( tạ/ha) ( tấn) Năm Cả nước Miền Bắc Cả nước Miền Bắc Cả nước Miền Bắc 2001 73.300 Nguồn: Niên giám thống kê năm 2005 Diện tích cây ăn quả có múi từ năm 2001 đến 2005 của cả nước tăng lên đáng kể, đặc biệt là Miền núi phía Bắc diện tích năm 2001 chỉ có 5.198 ha nhưng đến năm 2005 diện tích đạt 29.800 ha, tăng gấp 6 lần so với năm 2001. Sản lượng cả nước tăng từ 451.
Mặc dù sản lượng quả có múi ở nước ta có tăng, song vẫn không đủ cho tiêu dùng nội địa, do vậy hàng năm nước ta vẫn phải nhập một lượng lớn quả có múi từ nước ngoài (chủ yếu là từ Trung Quốc, Thái Lan) với giá trị nhập khẩu mỗi năm một tăng. Năm 2008 là 72,4 triệu USD hơn 2 lần so với năm 2007 và hơn 3 lần so với năm 2005. Tình hình sản xuất cây có múi tại tỉnh Hòa Bình Trong 3 năm từ năm 2010 đến năm 2012, diện tích cam và cây có múi của tỉnh Hòa Bình tăng lên rất nhanh. Chỉ trong 3 năm diện tích cam và cây có múi tăng 502 ha (tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 22,4 %), trong đó diện tích trồng mới trong thời kỳ kiến thiết cơ bản chiếm 329 ha.
Về năng suất: Đến năm 2012 năng suất cam và cây có múi của tỉnh mới đạt trung bình 25 tấn/ha, thuộc diện cao so với bình quân chung cả nước nhưng vẫn còn thấp so với thực tế và tiềm năng (mô hình đạt 50 - 60 tấn/ha). Nguyên nhân chủ yếu là do hiện nay khoảng 1/3 diện tích mới bước vào thời kỳ cho thu hoạch nên năng suất đạt được chưa cao, cộng thêm diện tích bưởi trồng quảng canh tại các huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn, thành phố…cho năng suất thấp nên kéo theo năng suất bình quân chung của cả tỉnh đều thấp. Tuy nhiên trong khoảng 2 – 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 năm tới khi diện tích cam bước vào thời kỳ kinh doanh cao điểm thi năng suất cam của tỉnh sẽ tăng lên nhanh chóng. Về sản lượng: Tính đến nay sản lượng cam và cây có múi bình quân của tỉnh đạt khoảng 25,5 nghìn tấn, thuộc loại cao nhất của khu vực miền núi phía Tây Bắc.
Diện tích, năng suất, sản lượng cây có múi trên địa bàn tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2010 -2012 Chỉ tiêu phát Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 triển Tốc độ Mức Nội dung tăng Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ tăng dt trưởng lượng (%) lượng (%) lượng (%) (ha) BQ (6)-(2) (%) (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) 100, 100, Tổng số 1.506 502 22,4 0 0 Diện Kiến thiết tích 156 15,5 246 21,8 485 32,2 329 76,5 cơ bản (Ha) Trong kỳ 849 84,5 883 78,2 1.