Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của sử dụng đất nông nghiệp bền vững 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Phát triển bền vững Khái niệm “Phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ XX. Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (WCED, 1986) [80], đã đề xuất “Chương trình tương lai của chúng ta”. Sau đó, Hội nghị Olympic thế giới (thể thao và môi trường) (1992) [72], đã đưa ra “Chương trình nghị sự 21”. Hai chương trình này đều định nghĩa: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm thương tổn đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”.
Hội đồng Liên Hợp Quốc trong Hội nghị Rio de Janeiro về môi trường và phát triển (1992) [78], có 182 nước tham gia đã thông qua bản tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển. Bản tuyên bố này đã đưa ra 27 nguyên tắc cho sự phát triển và bảo vệ môi trường. Hội đồng Liên Hợp Quốc trong Hội nghị về phát triển bền vững (2002) [79], đã thông qua bản tuyên bố “Johannesburg”. Trong bản tuyên bố này đã nêu, phát triển bền vững là có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống).
5 FAO (1991) [56] và FAO (1994) [67], đề xuất “Phát triển bền vững là quản lý và bảo vệ nguồn lực tự nhiên, định hướng sự thay đổi công nghệ, thể chế, nhằm đảm bảo và đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng của con người trong các thế hệ hiện tại và tương lai”.2 Nông nghiệp bền vững Mục đích của nông nghiệp bền vững là kiến tạo một hệ thống nông nghiệp bền vững về mặt sinh thái, có tiềm lực về mặt kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu ngày càng tăng của con người mà không làm suy thoái đất, không làm ô nhiễm môi trường trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên. Nhóm tư vấn về nghiên cứu nông nghiệp quốc tế (1989) [77], cho rằng “Nông nghiệp bền vững là sự quản lý thành công nguồn nhân lực cho nông nghiệp, để thỏa mãn các nhu cầu thay đổi của con người, trong khi vẫn giữ vững hoặc nâng cao được chất lượng môi trường và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên”. FAO (1991) [56] và FAO (1994) [67], định nghĩa “Phát triển bền vững trong lĩnh vực nông lâm ngư là bảo tồn đất đai, nguồn nước, các nguồn di truyền động thực vật, môi trường không suy thoái, kỹ thuật phù hợp, kinh tế phát triển và xã hội chấp nhận được”. Theo nghiên cứu nông nghiệp Hội nghị ở New Delhi Ấn Độ về quản lý nông nghiệp bền vững (Baier, 1990) [55], “Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống có hiệu quả kinh tế, đáp ứng nhu cầu xã hội về an ninh lương thực, đồng thời giữ gìn, cải thiện tài nguyên thiên nhiên và chất lượng của môi trường sống cho đời sau”.R (1993) [57], đã định nghĩa “Một hệ thống nông nghiệp bền vững phải đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về ăn và mặc thích hợp; có hiệu quả kinh tế, môi trường và xã hội; gắn với việc tăng phúc lợi trên đầu người”.3 Hệ sinh thái nông nghiệp Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái do con người tạo ra với mục đích thỏa mãn nhu cầu trên nhiều mặt và ngày càng tăng của mình.
Hệ sinh thái nông nghiệp duy trì trên cơ sở quy luật khách quan của nó, tương đối đơn giản về thành phần và đồng nhất về cấu trúc, chưa cân bằng, kém bền vững và dễ bị phá vỡ. Hệ sinh thái nông nghiệp được duy trì dưới sự tác động thường xuyên của con người, nếu ngừng tác động nó sẽ quay về hệ sinh thái tự nhiên (Trần Đức Viên, 2004) [54].2 Chỉ tiêu đánh giá sử dụng đất nông nghiệp bền vững 1.1 Đảm bảo bền vững kinh tế ¾ Hướng dẫn quy hoạch sử dụng đất của FAO (1993) [66], các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững về kinh tế gồm: - Tổng lợi nhuận: Là giá trị sản xuất trừ đi tổng chi phí biến đổi được phân bổ trực tiếp (đối với cây trồng chi phí gồm: hạt giống, phân bón, nhiên liệu, nước, lao động, máy móc thuê…). - Thu nhập thuần: Là tổng lợi nhuận trừ đi các chi phí cố định cho sản xuất. - Giá trị hiện hữu thuần: Giá trị hiện hữu của lợi ích trừ đi giá trị hiện hữu của chi phí.
- Tỉ lệ lợi ích/chi phí: Giá trị hiện hữu của lợi ích chia cho giá trị hiện hữu của chi phí. - Mức hoàn trả vốn. ¾ Hội Khoa học Đất Việt Nam (2000) [23], lại đề xuất: - Năng suất cao: + Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao hơn mức bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai. + Xu thế năng suất phải tăng dần.
7 - Chất lượng sản phẩm: Đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và xuất khẩu, tùy mục tiêu thị trường. - Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích. - Giảm rủi ro: Hệ thống có mức thiệt hại do thiên tai, sâu bệnh thấp nhất. ¾ Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2009) [7], chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế cho cây trồng ngắn ngày gồm: Giá trị sản xuất, chi phí, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, giá trị ngày công.
¾ Những thuận lợi và khó khăn về hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp vùng ven biển: - Những thuận lợi: Vùng ven biển có nhiều loại hình sử dụng đất (LUT) có giá trị kinh tế cao (nuôi trồng thủy sản nước lợ, nước mặn, trồng lúa đặc sản và hoa màu) - Những khó khăn: Gặp nhiều rủi ro do thiên tai (bão, lũ lụt, xâm nhập mặn, sâu, bệnh…) làm cho hiệu quả kinh tế của các LUT ít ổn định.2 Đảm bảo bền vững xã hội ¾ Hướng dẫn quy hoạch sử dụng đất của FAO (1993) [66], các chỉ tiêu bền vững về xã hội gồm: - Dân số: Quy mô, phân bố, cấu trúc tuổi, di dân. - Nhu cầu cơ bản của người sử dụng đât: An ninh lương thực, giảm bớt rủi ro. - Cơ hội việc làm và thu nhập. - Quyền sở hữu đất đai.
- Quy hoạch (các hệ thống sử dụng đất) phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật. - Được cộng đồng chấp nhận: Một hệ thống sử dụng đất cho dù tối ưu với cấp huyện hay cấp cao hơn, nhưng nông hộ không thể thực hiện thì cũng 8 không thể lựa chọn. ¾ Hội Khoa học Đất Việt Nam (2000) [23], đã đề xuất: - Đáp ứng nhu cầu của nông hộ: Đây là điều phải quan tâm trước nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường…). Sản phẩm thu được cần thỏa mãn ăn, mặc và nhu cầu sống hàng ngày, sau đó mới vươn lên sản xuất hàng hóa.
- Hệ thống muốn bền vững phải không vượt quá khả năng khả thi của nông hộ (vốn, lao động, kỹ thuật, quyền sử dụng đất đai). - Sự tham gia của người dân vào quản lý đất đai, từ bước quy hoạch đến tiêu thụ sản phẩm. - Cải thiện bình đẳng giới và quyền trẻ em trong cộng đồng: Giảm công việc nặng nhọc cho phụ nữ và không sử dụng lao động trẻ em. - Phù hợp với pháp luật hiện hành.
- Được cộng đồng chấp nhận. - Đảm bảo an ninh lương thực ¾ Những thuận lợi và khó khăn về hiệu quả xã hội sử dụng đất nông nghiệp vùng ven biển: - Những thuận lợi: Những sản phẩm nông nghiệp đều đáp ứng nhu cầu tại chỗ cho nông hộ. Ngoài việc đảm bảo an ninh lương thực cho địa phương, vùng ven biển còn sản xuất hàng hóa, vì nơi đây là những vựa lúa và nuôi trồng thủy sản rộng lớn. - Những khó khăn: Vùng đồng bằng ven biển thường có mật độ dân số đông, đất đai hạn hẹp, nhu cầu sử dụng đất của nông hộ thường lớn hơn diện tích đất hiện có, đất đai được sử dụng triệt để vào sản xuất.
Giải quyết việc làm cho người lao động từ nông nghiệp chiếm tỉ lệ lớn, nhưng số lao động thất nghiệp vẫn còn nhiều.3 Đảm bảo bền vững môi trường và sinh vật Để đánh giá mức độ bền vững của hệ thống nông nghiệp về mặt sinh thái môi trường, người ta thường dùng các chỉ tiêu thể hiện tính bền vững của đất, sinh vật và của môi trường. ¾ Hướng dẫn quy hoạch sử dụng đất của FAO (1993) [66], các chỉ tiêu bền vững về môi trường bao gồm: - Tài nguyên đất và nước: Mức độ xói mòn đất, lở đất và bồi tụ; đảm bảo cung cấp nước, chất lượng nước trong và ngoài khu vực quy hoạch hệ thống sử dụng đất. - Tài nguyên rừng và đồng cỏ, chất lượng môi trường sống của động vật hoang dã: Mức độ mất rừng hoặc suy thoái rừng; cấu trúc và thành phần của rừng, đồng cỏ và đất ngập nước. Đây là điều kiện cần thiết để đảm bảo cuộc sống của động vật hoang dã, bảo tồn nguồn gien.
- Giá trị cảnh quan phục vụ du lịch: Bảo tồn tài nguyên du lịch, vui chơi giải trí. ¾ Hội Khoa học Đất Việt Nam (2000) [23], đề xuất: - Tính bền vững của đất: Dựa vào sự biến đổi của các chỉ tiêu vật lý, hoá học và sinh học của đất theo thời gian để đánh giá tính bền vững của đất. + Độ phì nhiêu của đất phải tăng dần nhờ việc cung cấp thường xuyên chất hữu cơ cho đất. + Giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép.
+ Khử hay giảm thiểu tối đa các yếu tố có hại trong đất. + Thực hiện tốt các biện pháp canh tác. - Tính bền vững sinh vật: Quỹ gien sẵn có được duy trì, phục tráng và bổ sung bằng các loài mới. Một hệ canh tác nếu tận dụng được nhiều loài bản địa đã được chọn lọc lâu đời và thích hợp với điều kiện địa phương, lại được bổ 10 sung thêm những giống mới, sẽ được đánh giá cao về tính bền vững sinh thái.
- Tính bền vững môi trường: Đó là việc quản lý đầu vào và đầu ra của hệ thống nông nghiệp để không ảnh hưởng xấu đến môi trường.