Luận văn thạc sĩ về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tại xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội

Luận văn thạc sĩ phân tích vnu ls bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân qua thực tiễn xã dương xá huyện gia lâm thành phố hà nội, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

116
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

1.1. Khái niệm bầu cử và bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân

1.2. Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

1.3. Mục đích, ý nghĩa của Bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân

1.4. Sự hình thành và phát triển các qui phạm về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

1.4.1. Thời kỳ từ 1945 đến năm 1954

1.4.2. Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975

1.4.3. Thời kỳ từ năm 1975 đến trước năm 1992

1.4.4. Thời kỳ từ năm 1992 đến nay

1.5. Các nguyên tắc bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân

1.5.1. Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu

1.5.2. Nguyên tắc bình đẳng

1.5.3. Nguyên tắc bầu cử trực tiếp

1.5.4. Nguyên tắc bỏ phiếu kín

1.6. Quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân

1.6.1. Quyền bầu cử

1.6.2. Quyền ứng cử

1.7. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN CÔNG TÁC BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TẠI XÃ DƢƠNG XÁ, HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1. Công bố ngày bầu cử. Các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

2.2. Hội đồng bầu cử ở Trung Ương

2.3. Ủy ban bầu cử. Ban bầu cử. Tổ bầu cử

2.4. Lập Danh sách cử tri. Đối tượng được lập danh sách cử tri

2.5. Điều chỉnh và bổ sung danh sách cử tri

2.6. Công bố và chốt danh sách cử tri

2.7. Ứng cử và hiệp thương giới thiệu người ứng cử. Số lượng, thành phần, cơ cấu, tiêu chuẩn của người ứng cử

2.8. Hình thức ứng cử. Hiệp thương, giới thiệu người ứng cử. Công bố danh sách những người ứng cử

2.9. Tuyên truyền, vận động bầu cử

2.9.1. Vai trò tuyên truyền, vận động bầu cử

2.9.2. Quyền vận động bầu cử của người ứng cử

2.10. Bỏ phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

2.10.1. Qui định về việc bỏ phiếu

2.10.2. Bỏ phiếu và bỏ phiếu hộ

2.11. Kết quả bầu cử

2.12. Tổ chức kiểm phiếu

2.13. Tổng hợp kết quả bầu cử tại đơn vị bầu cử. Bầu cử thêm, bầu cử lại và bầu cử bổ sung

2.14. Tổng kết bầu cử

2.15. Những tồn tại, hạn chế trong quá trình tổ chức bầu cử

2.15.1. Nội dung những tồn tại hạn chế

2.15.2. Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế

2.16. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

3.1. Nhu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

3.2. Qui định chặt chẽ tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân

3.3. Đổi mới việc lập danh sách cử tri tham gia bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã phù hợp với điều kiện thực tiễn của các xã đang trong tiến trình đô thị hóa

3.4. Xây dựng, hoàn thiện các qui định của pháp luật về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các tổ chức phụ trách bầu cử

3.5. Bố trí các đơn vị bầu cử đảm bảo tính công bằng và tính đại diện

3.6. Đảm bảo dân chủ trong qui trình hiệp thương và mở rộng qui định tự ứng cử của công dân

3.7. Đổi mới các qui định về vận động bầu cử phù hợp với tình hình hiện nay

3.8. Đổi mới phương pháp xác định kết quả bầu cử

3.9. Khẳng định bầu cử là quyền và trách nhiệm của công dân, khôi phục nguyên tắc bầu cử tự do

3.10. Kết luận Chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tại xã Dương Xá

Nghiên cứu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) tại xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội là một chủ đề quan trọng trong bối cảnh phát triển chính trị và xã hội hiện nay. Bầu cử không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm của mỗi công dân trong việc lựa chọn những người đại diện cho mình. Qua nghiên cứu này, các vấn đề liên quan đến quy trình bầu cử, vai trò của HĐND và những thách thức trong công tác tổ chức bầu cử sẽ được làm rõ.

1.1. Khái niệm và vai trò của bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

Bầu cử đại biểu HĐND là một trong những hình thức thể hiện quyền lực của nhân dân. Nó không chỉ giúp cử tri lựa chọn những người đại diện cho mình mà còn góp phần vào việc xây dựng nhà nước pháp quyền. Bầu cử là một quá trình dân chủ, thể hiện ý chí của nhân dân trong việc quản lý và điều hành các vấn đề xã hội.

1.2. Lịch sử phát triển bầu cử đại biểu HĐND tại Việt Nam

Bầu cử đại biểu HĐND đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ năm 1945 đến nay. Mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm riêng, phản ánh sự thay đổi trong tư duy chính trị và pháp luật của Việt Nam. Việc nghiên cứu lịch sử bầu cử giúp hiểu rõ hơn về những thành tựu và hạn chế trong công tác bầu cử hiện tại.

II. Những thách thức trong công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tại xã Dương Xá

Mặc dù công tác bầu cử đã được quan tâm, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết. Những vấn đề như sự thiếu minh bạch trong quy trình bầu cử, sự tham gia hạn chế của cử tri và những bất cập trong việc tổ chức bầu cử là những điểm cần được chú ý. Việc nhận diện và phân tích những thách thức này sẽ giúp cải thiện chất lượng bầu cử trong tương lai.

2.1. Thiếu minh bạch trong quy trình bầu cử

Một trong những vấn đề lớn nhất trong công tác bầu cử là sự thiếu minh bạch. Điều này có thể dẫn đến sự nghi ngờ từ phía cử tri về tính hợp pháp của cuộc bầu cử. Cần có những biện pháp cụ thể để đảm bảo rằng mọi quy trình đều được công khai và minh bạch.

2.2. Sự tham gia hạn chế của cử tri

Sự tham gia của cử tri trong các cuộc bầu cử là rất quan trọng. Tuy nhiên, tại xã Dương Xá, tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử vẫn còn thấp. Cần có các chiến dịch tuyên truyền để nâng cao nhận thức và khuyến khích cử tri tham gia tích cực hơn.

III. Phương pháp nâng cao chất lượng bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

Để nâng cao chất lượng bầu cử, cần áp dụng các phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc cải cách quy trình bầu cử, tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục chính trị cho cử tri là những yếu tố quan trọng. Các giải pháp này không chỉ giúp cải thiện chất lượng bầu cử mà còn nâng cao trách nhiệm của cử tri.

3.1. Cải cách quy trình bầu cử

Cải cách quy trình bầu cử là cần thiết để đảm bảo tính minh bạch và công bằng. Cần xem xét lại các quy định hiện hành và đưa ra những điều chỉnh phù hợp với thực tiễn.

3.2. Tăng cường công tác tuyên truyền

Tuyên truyền về quyền và nghĩa vụ của cử tri là rất quan trọng. Cần có các chương trình giáo dục chính trị để nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của bầu cử trong việc xây dựng chính quyền địa phương.

IV. Kết quả nghiên cứu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tại xã Dương Xá

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mặc dù có nhiều nỗ lực trong công tác bầu cử, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần khắc phục. Việc phân tích kết quả bầu cử sẽ giúp đưa ra những nhận định chính xác về tình hình bầu cử tại xã Dương Xá và từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện.

4.1. Đánh giá kết quả bầu cử

Kết quả bầu cử cần được đánh giá một cách khách quan. Việc phân tích các số liệu và thông tin liên quan sẽ giúp nhận diện những điểm mạnh và điểm yếu trong công tác bầu cử.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Từ những kết quả bầu cử, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho các cuộc bầu cử tiếp theo. Những bài học này sẽ giúp cải thiện quy trình và nâng cao chất lượng bầu cử trong tương lai.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai của bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng bầu cử đại biểu HĐND tại xã Dương Xá cần được cải thiện để đáp ứng yêu cầu của cử tri. Hướng phát triển tương lai cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng bầu cử, đảm bảo tính minh bạch và khuyến khích sự tham gia của cử tri. Việc thực hiện các giải pháp này sẽ góp phần xây dựng một chính quyền địa phương vững mạnh và hiệu quả.

5.1. Định hướng cải cách bầu cử trong tương lai

Cần có những định hướng rõ ràng cho việc cải cách bầu cử trong tương lai. Các chính sách và quy định mới cần được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tiễn và ý kiến của cử tri.

5.2. Vai trò của cử tri trong việc xây dựng chính quyền

Cử tri đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chính quyền địa phương. Việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cử tri sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân qua thực tiễn xã dương xá huyện gia lâm thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN 1. Khái niệm bầu cử và bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân 1. Bầu cử “Bầu cử” là một cách thức được sử dụng và áp dụng rất nhiều trong các trường hợp đề xây dựng mới, củng cố, kiện toàn thậm chí là cả bãi nhiệm, bãi miễn đối với các chức danh, các vị trí quan trọng nằm trong cơ cấu tổ chức nhân sự của các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế. Tùy từng bối cảnh sử dụng khác nhau mà “bầu cử có tính chính trị” hay “tính xã hội” [24, tr.

Với vai trò thể hiện tính chính trị, “bầu cử do các cơ quan nhà nước thực hiện theo một trình tự, thủ tục nhất định mang tính bắt buộc được qui định trong Hiến pháp và Luật, chọn ra các cá nhân nắm giữ các chức vụ trong Quốc hội, các cơ quan đại diện chính quyền” [24, tr. Thủ tục này được thực hiện bởi sự biểu quyết của cử tri (đại cử tri, đại diện cử tri) với điều kiện để bầu một đại biểu (chức danh) phải có từ hai ứng cử viên trở lên. Ngược lại, với vai trò thể hiện tính xã hội, bầu cử do các tổ chức xã hội hay kinh tế thực hiện, áp dụng bầu cử theo quy chế, quy ước của tổ chức đó, chọn ra các cá nhân nắm giữ những cương vị lãnh đạo trong tổ chức (ví dụ: bầu cử ban chấp hành công đoàn, giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị công ty; ban chấp hành, ban chủ nhiệm các hội, hiệp hội, các câu lạc bộ. Cũng bởi tính chất bầu cử trong mỗi hoàn cảnh sử dụng khác nhau nên phạm vi, giá trị kết quả của mỗi lần bầu cử không giống nhau và tạo nên sự khác biệt rõ rệt giữa các khái niệm “bầu cử” với các hình thức tuyển chọn khác như: “cử”, “bổ nhiệm” và “tuyển dụng”.

Kết quả bầu cử mang tính chất xã hội sẽ chỉ có ảnh hưởng, tác động trong phạm vi hoạt động nhỏ, đơn lẻ trong nội bộ cơ quan, tổ chức. Trong khi đó, kết quả từ bầu cử mang tính chính trị là “biểu hiện cụ thể 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của dân chủ” [27, tr.114] là khẳng định trao quyền cho một cơ quan, một cá nhân nhất định đại diện cho nhân dân nhằm thực hiện quyền lực nhà nước. Tuy nhiên việc xác định tính xã hội hay tính chính trị của bầu cử chỉ mang tính tương đối bởi chính những cuộc bầu cử mang tính chính trị đã diễn ra trên thực tế trong đời sống chính trị - xã hội lại coi “bầu cử là hoạt động xã hội của con người” [17, tr.331] được thực hiện dựa trên những nguyên tắc mang tính chất của mọi hoạt động xã hội và những nguyên tắc đặc thù của hoạt động bầu cử. Các nguyên tắc đó thống nhất với nhau, đảm bảo cho bầu cử khách quan, dân chủ, thể hiện đúng nguyện vọng của cử tri khi lựa chọn đại biểu.

Theo Montesquieu chỉ ra trong Quyển II, Chương 2 của cuốn De l'esprit des lois (Tinh thần Pháp luật) ông rằng trong việc bầu cử ở thể chế cộng hòa hay dân chủ, cử tri có khi là những người cầm quyền của quốc gia có khi lại là người dân của nhà nước đó bằng việc bỏ phiếu. Nó cho phép người dân có quyền rất lớn để hành động như những "chủ nhân" chọn những "công bộc" chính quyền cho chính họ. Đặc điểm đặc biệt của các nền dân chủ và cộng hòa là sự nhận thức rằng chỉ có quyền hợp pháp cho nhà nước "của dân, do dân và vì dân" là phải có sự đồng thuận của người dân hay những người bị trị (consent of the governed). Giống như nhiều quốc gia trên thế giới, mô hình tổ chức nhà nước được Đảng và nhân dân ta lựa chọn hiện nay đó là mô hình của nhà nước đơn nhất về hình thức cấu trúc lãnh thổ.

Quyền lực nhà nước tập trung vào các cơ quan trung ương, sau đó phân dần cho các cơ quan chính quyền nhà nước ở địa phương được tổ chức tương ứng với các đơn vị hành chính. Về mặt chính thể của nhà nước Việt Nam hiện nay được tổ chức theo mô hình của một nhà nước dân chủ, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà nước được tổ chức không theo nguyên tắc phân quyền mà tập trung trong tay Quốc hội, cơ quan duy nhất thực hiện quyền lực nhà nước thuộc về mình do nhân dân toàn quốc 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trực tiếp bầu ra, nhưng có sự phân định rạch ròi giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Thông qua bầu cử, bộ máy nhà nước được thành lập ra cho phép chúng ta xác định nguồn gốc, bản chất dân chủ của nhà nước và khẳng định tính hợp pháp, chính đáng của chính quyền.

Trong chính thể dân chủ: Pháp luật bầu cử cũng giống như nhiều chế định pháp luật khác của ngành luật Hiến pháp không những chỉ qui định bầu cử chứa đựng các qui phạm nói chung về quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể tham gia các mối quan hệ bầu cử mà còn chứa đựng cả những qui phạm có tính thủ tục, qui định trình tự đối với một cuộc bầu cử và xác định kết quả cho cuộc bầu cử [17, tr. Vì thế, khái niệm bầu cử chính trị có thể được hiểu ở nhiều góc độ khía cạnh khác nhau: Xét về ý nghĩa: Bầu cử là một hình thức sinh hoạt chính trị thể hiện quyền lực, ý nguyện của nhân dân. Xét về thuật ngữ trong Luật Hiến pháp: Bầu cử được hiểu là thủ tục thành lập cơ quan nhà nước hay chức danh nhà nước Xét về trình tự: Bầu cử là một quá trình đưa ra quyết định của người dân để chọn ra một cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền. Xét về chức năng: Bầu cử là cơ chế thông thường mà các nền dân chủ hiện dùng để phân bổ chức vụ trong bộ máy lập pháp, thỉnh thoảng ở bộ máy hành pháp, tư pháp, và ở chính quyền địa phương.

Xét về vị trí pháp lý: Bầu cử là một trong những chế định quan trọng trong ngành Luật Hiến pháp, là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực Nhà nước. Ngoài ra bầu cử còn được coi là một chế định trọng tâm của các chính phủ dân chủ kiểu đại diện; một biện pháp hạn chế hữu hiệu quyền lực nhà nước. Với nhiệm vụ nghiên cứu Hiến pháp – một đạo luật cơ bản do cơ quan 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyền lực nhà nước ban hành. Nó qui định việc tổ chức nhà nước, cơ cấu thẩm quyền các cơ quan nhà nước trung ương và quyền cơ bản của con người.

Mọi cơ quan và tổ chức phải có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp. Trong Hiến pháp, chế độ bầu cử là một trong số chế định quan trọng vì nó vừa thể hiện những quan hệ có liên quan đến việc thành lập các cơ quan nhà nước lại vừa thể hiện quyền chính trị của công dân. Do vậy, khái niệm bầu cử cần được hiểu là: “Bầu cử là một trong những chế định quan trọng trong ngành Luật Hiến pháp, là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực Nhà nước” [17, tr. Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân Để hiểu được khái niệm bầu cử đại biểu HĐND trước tiên cần trả lời được câu hỏi HĐND là gì? Đại biểu HĐND là ai? Theo pháp luật hiện hành, cơ quan chính quyền địa phương ở nước ta được phân chia thành ba cấp gồm: cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); cấp quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã (gọi chung là cấp huyện); cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã).

“HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” [Điều 113], Hiến pháp 2013) [46, Điều 113]. HĐND có nhiệm kỳ hoạt động là năm năm; hoạt động của HĐND thông qua kỳ họp HĐND, hoạt động của thường trực HĐND, các ban thuộc HĐND và thông qua hoạt động của các đại biểu HĐND. HĐND thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo qui định của pháp luật, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của trung ương, đồng thời phát huy quyền chủ động, sáng tạo của địa phương. Tính quyền lực của HĐND biểu hiện ở việc nó thể hiện quyền làm chủ của nhân dân trên địa bàn lãnh thổ đồng thời thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do cấp trên giao.

HĐND thực hiện chức năng quyết 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định những vấn đề của định phương trong phạm vi phân cấp thông qua việc ban hành nghị quyết – văn bản qui phạm pháp luật có tính bắt buộc chung đối với mọi cá nhân, tổ chức và công dân ở địa phương. HĐND bầu ra cơ quan chấp hành của cấp mình là UBND – cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, đồng thời thực hiện chức năng giám sát các hoạt động chấp hành và điều hành của UBND trong việc thực hiện nghị quyết của HĐND và các quyết định khác của các cơ quan nhà nước cấp trên, thực hiện Hiến pháp và Luật. Để thành lập ra được HĐND đảm bảo cơ cấu, tổ chức thì nhiệm vụ đầu tiên phải bầu được các Đại biểu HĐND. Việc tổ chức bầu cử đại biểu HĐND được thực hiện thông qua hoạt động của các tổ chức phụ trách bầu cử.

Theo qui định tại Điều 36, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 nêu rõ “Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa phương, gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật và tham gia vào việc quản lý nhà nước” [40, Điều 36]. Trước khi được đưa vào danh sách ứng cử viên bầu cử đại biểu HĐND, các ứng cử viên phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo luật định và phải trải qua các bước hiệp thương bắt buộc. Người trúng cử đại biểu HĐND là người được cử tri tín nhiệm với số phiếu bầu tán thành đạt tỷ lệ trên 50% so với tổng số cử tri tại khu vực bỏ phiếu và được xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp, trong phạm vi số đại biểu được bầu tại mỗi khu vực bỏ phiếu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ