Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu chung về các loài hạt trần Cây Hạt trần là một trong những nhóm cây quan trọng nhất trên thế giới. Các khu rừng cây Hạt trần rộng lớn của bắc bán cầu là nơi lọc khí các bon níc, giúp làm điều hòa khí hậu. Rất nhiều dãy núi trên thế giới có rừng cây Hạt trần chiếm ưu thế, đóng vai trò quyết định đối với việc điều hòa nước cho hệ thống sông ngòi chính.
Những trận lụt lội khủng khiếp gần đây ở các vùng thấp như ở các nước Trung Quốc và Ấn Độ có quan hệ trực tiếp tới việc khai thác quá mức rừng cây ngành hạt trần phòng hộ đầu nguồn. Rất nhiều loại thức vật, động vật, nấm phụ thuộc vào cây ngành hạt trần để tồn tại. Ngành hạt trần cung cấp một phần chính gỗ cho xây dựng, ván ép, bột và các sản phẩm giấy của thế giới. Nhiều loài còn cho gỗ quý với những công dụng đặc biệt như dùng đóng tàu hay làm đồ mỹ nghệ.
Hạt của nhiều loài còn là nguồn thức ăn quan trọng cho dân địa phương ở các vùng xã xôi ở Chi Lê, Mexico, Ôxtrâylia và Trung Quốc. Phần lớn các cây thuộc ngành hạt trần có chứa các hóa chất sinh hóa mà đang ngày càng được sử dụng làm thuộc chữa các căn bệnh thế kỷ như ung thư (Dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2010) [23]. Hiện nay, có trên 200 loài cây Hạt trần được coi là bị đe dọa tuyệt chủng ở mức độ toàn thế giới (Dẫn theo Ngô Đức Tố Lưu và Philip lan Thomas, 2004) [18]. Rất nhiều loài khác bị đe dọa hay gặp nhất là khai thác quá mức lấy gỗ hay các sản phẩm khác, phá rừng làm bãi chăn thả, gia súc, trồng trọt và làm nơi sinh sống cho con người, cùng với sự gia tăng tần suất của đám cháy rừng.
Tầm quan trọng đối với thế giới của loài thuộc ngành hạt trần làm cho công việc bảo tồn chúng trở nên có ý nghĩa đặc biệt. Sự phức tạp trong các yếu tố đe dọa gặp phải cần có một loạt các chiến lược thực hành để 4 bảo tồn và sử dụng bền vững các loài cây này. Bảo tồn tại chỗ thông qua các cơ chế như hình thành các Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên là một giải pháp tốt, có hiệu quả đối với những khu vực lớn còn rừng nguyên sinh. Công tác bảo tồn đòi hỏi sự công tác của mọi người từ các ngành, nghề và tổ chức khác nhau.
Những người làm công tác này đều phụ thuộc vào việc định danh chính xác loài cây mục tiêu hay các sinh vật khác có liên quan và các thông tin cập nhật ở các mức độ địa phương, khu vực và quốc tế. Tổng quan nghiên cứu về các loài hạt trần 1. Trên thế giới 1. Thành phần và mức độ đa dạng của các loài hạt trần Robert Brown là người đầu tiên nghiên cứu và phân chia thực vật có hạt là hạt trần và hạt kín, A.
Takhtajan đã hoàn thiện dần hệ thống phân chia thực vật ngành Hạt trần và ngành Hạt kín qua các tài liệu đã công bố từ 1950, 1954, 1966, 1980, 1983, 1987, 1997. Ông phân chia ngành Hạt trần thành 6 lớp và các phân lớp, 10 họ (Dẫn theo Nguyễn Tiến Hiệp và cộng sự, 2004) [6]. Ngoài ra còn có Kubitzkii (1990) đã công bố hệ thống phân loại ngành hạt trần mới, hệ thống phân loại này chia ngành Hạt trần thành 4 lớp, gồm 7 họ (Dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2010) [23]. Cây thuộc ngành Hạt trần là những loài cây có nguồn gốc cổ xưa nhất, khoảng trên 300 triệu năm.
Các vùng rừng cây ngành Hạt trần tự nhiên nổi tiếng thường được nhắc tới ở Châu Âu với các loài Vân sam (Picea), Thông (Pinus); Bắc Mỹ với các loài Thông (Pinus), Cù tùng (Sequoia, Sequoiadendron) và Thiết sam (Pseudotsuga); Đông Á như Trung Quốc và Nhật Bản với các loài Tùng bách (Cupressus, Juniperus) và Liễu sam (Cryptomeria). Lịch sử lâu dài của Trung Quốc cũng đã ghi lại nguồn gốc các cây ngành Hạt trần cổ thụ hiện còn tồn tại đến ngày nay mà có thể dựa vào nó để đoán tuổi của chúng. Ch ng hạn trên núi Thái Sơn (Sơn Đông) có cây Tùng ngũ đại phu do Tần Thủy Hoàng 5 phong tặng tên; cây Bách Hán tướng quân ở thư viện Tùng Dương (Hà Nam), cây Bạch quả đời Hán trên núi Thanh Thành (Tứ Xuyên); cây Bách nước Liêu (còn gọi là Liêu bách) trong công viên Trung Sơn (Bắc Kinh). Đồng thời, nhiều nơi khác trên thế giới cũng có một số cây cổ thụ nổi tiếng như cây Cù tùng (Sequoia) có tên “cụ già thế giới” ở California (Mỹ) đã trên 3.000 năm tuổi, cây Tuyết tùng (Cedrus deodata) trên đảo Ryukyu (Nhật Bản) qua máy đo đã 7.
Tại Li Băng hiện còn một đám rừng gồm 400 cây Bách Libăng (Cedrus) nổi tiếng từ thời tiền sử, trong đó có 13 cây cổ địa có hàng nghìn năm tuổi (Dẫn theo Nguyễn Tiến Hiệp và cộng sự, 2004) [6]. Nghiên cứu về đặc điểm sinh học của các loài hạt trần Các loài cây thuộc ngành Hạt trần đã đóng góp một phần không nhỏ vào nền kinh tế của một số nước như Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan, New Zealand. Ngành hạt trần cung cấp một phần chính gỗ xây dựng, ván ép, bột và các sản phẩm giấy trên thế giới. Nhiều loài còn cho gỗ quý với những công dụng đặc biệt như dùng đóng tàu hay làm đồ mỹ nghệ.
Phần lớn cây thuộc ngành hạt trần có gỗ dễ gia công, bền. Ở Chi Lê, Fizroya cupressoides là một loài cây thuộc ngành hạt trần rừng ôn đới có chiều cao đạt trên 50 m và tuổi của chúng trên 3. Thân cây này được tìm thấy từ các đầm lầy nơi chúng đã bị chôn vùi từ trên 5.000 năm trước nhưng gỗ vẫn có giá trị sử dụng tốt. Loài cây được dùng trồng rừng nhiều nhất trên thế giới là Thông Pinus radiata, là nguyên liệu cơ bản cho công nghiệp rừng của châu Úc, Nam Mỹ và Nam Phi, với tổng diện tích lớn hơn cả diện tích Việt Nam.
Tại sinh cảnh nguyên sản của cây ở Califonia loài chỉ có ở 5 đám nhỏ còn sót lại và đang bị đe dọa nghiêm trọng. Cây thuộc ngành hạt trần còn là nguồn cung cấp nhựa quan trọng trên thế giới. Hạt của nhiều loài còn là nguồn thức ăn quan trọng cho dân địa phương ở các vùng xã xôi ở Chi Lê, Mêxicô, Ôxtrâylia và Trung Quốc. Phần lớn các cây thuộc ngành hạt trần có chứa các hóa chất sinh hóa mà đang ngày càng được sử dụng làm thuộc chữa các căn bệnh thế kỷ như 6 ung thư.
Cây thuộc ngành hạt trần còn có vai trò quan trọng trong các nên văn hóa ở phương Đông và phương Tây. Các dân tộc Xen tơ và Bắc âu thờ cây Thông đỏ Taxus baccata như một biểu tựơng của cuộc sống vĩnh hằng. Người Anh Điêng ở Pehuenche, Chi Lê tin rằng các cây đực và cây cái loài Bách tán (Araucaria araucana) mang các linh hồn tạo nên thế giới của họ (Dẫn theo Phan Kế Lộc và cộng sự, 1999) [15] (Dẫn theo Nguyễn Đức Tố Lưu và Philip lan thomas, 2004) [18]. Nghiên cứu về giải pháp bảo tồn các loài hạt trần Số lượng 603 loài hạt trần (so với 250.000 loài cây thuộc ngành Hạt kín) rõ ràng không phải là lớn, song chúng đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với môi trường và kinh tế - xã hội ở nhiều nước trên thế giới (Dẫn theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2004) [19].
Những đe dọa hay bắt gặp nhất là việc khai thác quá mức lấy gỗ hay các sản phẩm khác quá mức, phá rừng làm bãi chăn thả gia súc, trồng trọt và làm nơi sinh sống cho con người cùng với sự gia tăng tần suất của các đám cháy rừng. Với tầm quan trọng của nhóm thực vật hạt trần, việc bảo tồn chúng ngày càng trở nên cấp thiết. Nghiên cứu của Enright và Hill (1990), Farjon and Styles (1997) và Perry (1991) đã đưa ra một số giải pháp bảo tồn cho loài Thông Mexico và Trung Mỹ [10]. Burns và Honkala (1990) đã đưa ra giải pháp ngoài bảo tồn tại chỗ cần được bổ sung bởi bảo tồn chuyển vị và các chương trình lâm sinh chung của 65 loài cây lá kim quan trọng về kinh tế có nguồn gốc từ Bắc Mỹ; Eckenwalder (2009) và Farjon (2010) đã giới thiệu các chủ đề như hệ thống, tiến hóa, sinh thái và bảo tồn của các loài cây lá kim [10].
Để thực hiện được đòi hỏi các chính sách cũng như chiến lược cụ thể để bảo tồn và sử dụng bền vững. Bảo tồn tại chỗ thông qua các cơ chế như hình thành các Vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên là một giải pháp tốt, có hiệu quả đối với những khu vực lớn còn rừng nguyên sinh. Nghiên cứu về hai loài Kim giao và Thông tre lá dài Có nhiều công trình trên thế giới nghiên cứu về hai loài hạt trần này. Điển hình là nghiên cứu của N Sasidhanran (1991) đã mô tả rất chi tiết về thân, rễ, lá, hoa, quả của loài Kim giao.
Merrill, Elmer D (1997) cũng đã mô tả chi tiết về hình thái của loài Thông tre lá dài và chỉ ra vùng phân bố của chúng. Những nghiên cứu này là tiền đề giúp định dạng loài Kim giao và Thông tre lá dài nhanh và chính xác. Thành phần và mức độ đa dạng của các loài hạt trần Hiện tại có khoảng 29 loài cây thuộc ngành Hạt trần ở Việt Nam. Mặc dù chỉ dưới 5% số loài cây trong ngành Hạt trần đã biết trên thế giới được tìm thấy ở Việt Nam nhưng ngành Hạt trần Việt Nam lại chiếm đến 27% số các chi và 5 trong số 8 họ đã biết (Dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2010) [23].
Tất cả các loài cây ngành Hạt trần ở Việt Nam đều có ý nghĩa lớn. Chi Bách vàng mới chỉ được phát hiện vào năm 1999 trong khi loài Thủy tùng chỉ còn 2 quần thể nhỏ với tổng số cây ít hơn 250 cây thuộc tỉnh Đắk Lắk. Loài này là đại diện cuối cùng cho một dòng giống các loài cây cổ. hóa thạch của những cây này đã được tìm thấy ở những nơi cách rất xa như ở nước Anh.
Năm 2001 một quần thể nhỏ gồm hơn 100 cây của chi đơn loài Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides) được tìm thấy ở tỉnh Lào Cai. Trước đây chi này chỉ được biết có ở Đài Loan, Vân Nam và Đông Bắc Myanma. Những quần thể lớn loài Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii), một chi cổ khác chỉ gồm 2 loài, vừa được tìm thấy ở Nghệ An và các vùng phụ cận của Lào. Bốn trong số 6 loài Dẻ tùng (Amentotaxus) được biết (họ Thông đỏ - Taxaceae) đã thấy có ở Việt Nam.