ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, việc điều trị các bệnh nấm do các loại nấm men hoại sinh gây bệnh trên da và niêm mạc gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân là do các loại nấm này trong các điều kiện xác định có khả năng xâm nhập vào các khoang ổ sâu hơn trong cơ thể, làm tăng tỷ lệ những ngƣời bị nhiễm nấm cơ hội. Thêm vào đó, các tổ chức nấm phát triển chậm và thƣờng tồn tại ở các mô khó thấm thuốc nên điều trị các bệnh do nấm gây ra thƣờng lâu dài và khó hơn các bệnh nhiễm khuẩn khác [1]. Fenticonazol nitrat là một thuốc chống nấm mạnh thuộc nhóm imidazol, dùng để điều trị các bệnh về nấm gây ra bởi các loài nấm khác nhau nhƣ Candida và Trychophyton.
Ngoài ra fenticonazol nitrat còn đƣợc chứng minh là thể hiện hoạt phổ kháng khuẩn rộng trên vi khuẩn Gram dƣơng và vi khuẩn thƣờng liên quan đến nhiễm trùng da và nhiễm trùng âm đạo [41]. Do có độ tan và khả năng hòa tan kém nên các chế phẩm chứa fenticonazol nitrat trên thị trƣờng thƣờng sử dụng một lƣợng lớn dƣợc chất hoặc lƣợng lớn tá dƣợc để tăng độ tan, nhƣng có thể dẫn đến tăng các tác dụng không mong muốn [8]. Các hệ mang thuốc kích thƣớc nano có thể điều chỉnh khả năng thấm thuốc qua da, tăng khả năng lƣu giữ thuốc ở da trong đó hệ mang lipid kích thƣớc nano (NLC) có nhiều ƣu điểm nhƣ sử dụng chất mang là các lipid tƣơng thích sinh học tốt, kích thƣớc nhỏ của các hạt nano lipid cho phép sự tiếp xúc nhiều với lớp sừng, tạo điều kiện cho sự xâm nhập thuốc vào trong da và giải phóng thuốc một cách có kiểm soát, giữ ẩm cho da do tạo thành một lớp màng trên da ngăn chặn sự bốc hơi nƣớc,…[19] cho thấy tiềm năng ứng dụng vào các dạng bào chế dùng ngoài da. Vì vậy nhằm tận dụng những ƣu điểm của NLC áp dụng vào chế phẩm dùng ngoài da, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu bào chế gel chứa nano lipid fenticonazol nitrat” với các mục tiêu sau: 1.
Bào chế đƣợc tiểu phân nano lipid fenticonazol nitrat và đánh giá đƣợc một số đặc tính của hệ. Bƣớc đầu xây dựng đƣợc công thức bào chế gel chứa tiểu phân nano lipid fenticonazol nitrat. Vài nét về fenticonazol nitrat 1. Cấu trúc hóa học Hình 1.
Công thức cấu tạo của fenticonazol nitrat - Công thức phân tử: C24H21Cl2N3O4S. - Khối lƣợng phân tử: 518,4 g/mol. - Tên khoa học: 1-[2,4-dichlorophenyl)-2-[(4- phenylsulfanylphenyl)methoxylethyl] imidazol; nitric acid. - Dạng dƣợc dụng: fenticonazol, fenticonazol mononitrat [24].
Tính chất lý hóa - Hình thức: Fenticonazol nitrat (FTZ) tồn tại ở dạng bột kết tinh màu trắng hoặc gần trắng, không mùi, bền vững ngoài không khí nhƣng sẫm màu dần khi tiếp xúc ngoài ánh sáng. - Độ tan: Gần nhƣ không tan trong nƣớc (<1 mg/ml), tan tốt trong dimethylformamid và methanol, hòa tan ít trong ethanol khan [34]. - Nhiệt độ nóng chảy: 135-137⁰C. - Phân loại sinh dƣợc học: FTZ thuộc phân nhóm thuốc có độ tan kém [23].
Giá trị log P là 6,31 (6,94) [24]. - Hóa tính: Chủ yếu của nhân thơm. - Định tính: Xác định điểm chảy, phổ hồng ngoại IR. - Định lƣợng: Phổ hấp thụ UV- Vis, HPLC [34].
Độ ổn định và bảo quản FTZ kém bền với ánh sáng, cần bảo quản ở nhiệt độ phòng 15⁰C - 30⁰C, tránh ánh sáng. Phổ tác dụng và cơ chế tác dụng Fenticonazol nitrat là một dẫn xuất imidazol, đƣợc tổng hợp, có hoạt phổ chống nấm rộng, có tác dụng tốt với nhiều loại nấm. Cơ chế tác dụng của FTZ là ức chế isoenzym cytochrom P450 của nấm. Do đó ức chế sinh tổng hợp ergosterol gây rối loạn chức năng màng và enzyme liên kết màng, dẫn tới ảnh hƣởng đến sự sống và chức năng của tế bào nấm.
FTZ cũng đã đƣợc chứng minh là có tác dụng kháng khuẩn, với phổ hoạt động bao gồm các vi khuẩn liên quan đến nấm da bội nhiễm với Staphylococus aureus, Streptococci, Bacteroides melani-nogenicus-nhóm B.oralis, Gardnerella vaginalis, Mobiluncus spp và cầu khuẩn Gram dƣơng kỵ khí. Do đó, FTZ có thể là một thay thế tại chỗ lý tƣởng để điều trị đa tác nhân đối với các bệnh nhiễm trùng hỗn hợp [41]. Chỉ định FTZ đƣợc dùng trong các trƣờng hợp nhiễm nấm Candida ở miệng, hầu, họng, âm hộ, âm đạo, lang ben. Bệnh nấm da nhạy cảm với FTZ nhƣ bệnh do Trichophyton spp, Microsporum spp, Epidermophyton floccosum [41].
Tác dụng không mong muốn FTZ tại chỗ đƣợc dung nạp rất tốt, các tác dụng phụ thƣờng nhẹ ở mức độ vừa phải và thoáng qua. Các tác dụng bất lợi thƣờng xuyên gặp phải nhất là cảm giác bỏng rát, kích ứng da và ngứa khi bôi lên da. Nói chung, tỷ lệ tác dụng phụ của việc sử dụng <5% và những tác dụng phụ này hiếm khi là nguyên nhân dẫn đến việc ngừng điều trị. Cảm giác bỏng rát là tác dụng phụ thƣờng gặp nhất với FTZ khi dùng trong âm đạo.
Tuy nhiên, đây là triệu chứng của nấm âm đạo xuất hiện khi bệnh nhân chƣa sử dụng thuốc [41]. Một số dạng bào chế fenticonazol nitrat trên thị trường Bảng 1. Một số dạng bào chế của fenticonazol nitrat trên thị trƣờng Dạng bào chế Tên biệt dƣợc Hàm lƣợng Hãng sản xuất FTZ (mg) Thuốc đạn đặt Lomexin 200 mg Recordati âm đạo 600 mg Viên nang đặt Fentistat 600 mg jjjJay Ell Healthcare Pvt.Ltd âm đạo Fenticad Cadila Pharmakeutical 3 Vulvofen Nisskal Pharma Kem Fenticonaz 2% Healing Pharma India Fenza Glenmark Fenticona Nipro Jmi Pharma Ltd Dạng xịt Lomexin 2% Recordati 1. Vài nét về hệ mang lipid kích thƣớc nano (NLC) Nano lipid là hệ mang thuốc sử dụng các lipid làm giá mang dƣợc chất, có cấu trúc siêu vi nang hoặc siêu vi cầu.
Nano lipid gồm nhiều loại khác nhau, chủ yếu là nano lipid rắn (SLN) và hệ mang lipid kích thƣớc nano (NLC). Cấu tạo Tiểu phân nano lipid rắn (SLN) đƣợc giới thiệu vào năm 1991 thay thế cho các chất mang truyền thống nhƣ nhũ tƣơng, liposome và nano polyme. Ƣu điểm của SLN là sử dụng lipid sinh lý, tránh dung môi hữu cơ và khả năng ứng dụng trong sản xuất quy mô lớn, bảo vệ các tác nhân điều trị không bền do pha dầu trong nhũ tƣơng đƣợc thay bằng các lipid rắn [22]. SLN có thể cải thiện sinh khả dụng, bảo vệ thuốc nhạy cảm khỏi môi trƣờng khắc nghiệt và kiểm soát đƣợc các đặc điểm giải phóng thuốc.
Tuy nhiên SLN cho thấy một số nhƣợc điểm nhƣ xu hƣớng gel hóa không thể đoán trƣớc, tăng nguy cơ trục xuất thuốc do chuyển đổi đa hình và khả năng mang thuốc thấp do cấu trúc tinh thể của lipid rắn [16]. Những nhƣợc điểm của SLN nhƣ khả năng mang thuốc hạn chế và trục xuất thuốc trong quá trình bảo quản có thể đƣợc khắc phục bởi thế hệ mới: hệ mang lipid kích thƣớc nano (NLC). NLC đƣợc tạo thành từ hỗn hợp lipid rắn và lỏng pha trộn vào pha nƣớc chứa chất diện hoạt hoặc hỗn hợp chất diện hoạt. Thông thƣờng lipid rắn phối hợp với lipid lỏng theo tỷ lệ 70:30 lên đến tỷ lệ 99,9:0,1; nồng độ chất diện hoạt dao động từ 1,5-5% (w/w).
Vì sự khác biệt trong cấu trúc, hai loại lipid này không trộn đƣợc hoàn toàn để tạo thành tinh thể, tạo nhiều khe hở (khoảng cách giữa các chuỗi acid béo triglycerid) để chứa dƣợc chất bên trong. Sự có mặt của lipid lỏng trong thành phần giúp giảm nhiệt độ nóng chảy của hỗn hợp so với sử dụng lipid rắn. Nồng độ của hệ trong pha phân tán có thể lên đến 95% cao hơn so với SLN (chỉ khoảng 30%). So với SLN, NLC có hiệu suất nano hóa cao hơn, hạn chế đƣợc tình trạng đẩy dƣợc chất ra khỏi tiểu phân, kiểm soát đƣợc tốc độ giải phóng tốt hơn [3].
Phân loại Dựa vào cấu trúc khoang xốp bên trong, NLC đƣợc chia làm ba dạng: dạng vô định hình, dạng kết tinh không hoàn toàn và dạng nhũ tƣơng kép [2]. - Dạng vô định hình (amorphous type): ở nhiệt độ phòng, khoang xốp rắn ở trạng thái vô định hình nhờ một kỹ thuật phối hợp đặc biệt giữa các lipid. Dƣợc chất đan xen trong khung xốp. Ví dụ khung xốp vô định hình đƣợc điều chế từ hỗn hợp lipid hydroxyloctacossany hydroxyl stearat và isopropyl myristat [4].
- Dạng kết tinh không hoàn toàn (imperfect type): cấu tạo bởi hỗn hợp triglycerid của các acid béo bão hòa hoặc chƣa bão hòa với chuỗi carbon dài thƣờng ở trạng thái rắn, khi sắp xếp đan xen nhau sẽ tạo nên khung xốp lipid rắn với nhiều vùng khuyết lipid lỏng. Các vùng khuyết là vị trí phù hợp để dƣợc chất thân dầu định vị bên trong tiểu phân. Kiểu này đƣợc tạo nên bởi hỗn hợp lipid rắn phối hợp với lƣợng nhỏ dầu [4]. - Dạng nhũ tƣơng kép (multiple type): kiểu này đƣợc tạo nên bởi hỗn hợp lipid lỏng (dầu) phối hợp với một lƣợng vừa đủ lipid rắn.
Trong quá trình bào chế, ở nhiệt độ cao, lipid rắn tan chảy hòa trộn với dầu tạo pha lipid lỏng đồng nhất. Khi để nguội hoặc làm lạnh, sự tách pha xuất hiện dẫn đến hình thành những khoang nano dầu trong khung xốp lipid rắn. Khoang nano dầu là vị trí phù hợp để đƣợc chất thân dầu định vị bên trong tiểu phân. Kiểu cấu trúc này giống kiểu nhũ tƣơng kép (dầu/lipid rắn/nƣớc) nên đƣợc gọi là kiểu nhũ tƣơng kép [4], [33].
Các dạng NLC a) Dạng kết tinh không hoàn toàn; b) Dạng vô định hình; c) Dạng nhũ tƣơng kép 5 1. Thành phần Các thành phần trong hệ mang lipid kích thƣớc nano gồm có: dƣợc chất, lipid rắn, lipid lỏng, chất diện hoạt, dung môi và nƣớc. Dược chất Dƣợc chất trong hệ nano lipid có thể là dƣợc chất thân dầu hoặc dƣợc chất thân nƣớc. Với dƣợc chất thân nƣớc, việc bào chế nano gặp một vài khó khăn do dƣợc chất có khả năng bị phân tán lại vào pha nƣớc dẫn đến hiệu suất nano hóa (EE%) và tỷ lệ dƣợc chất nano (LC%) thấp, giải phóng dƣợc chất nhanh hơn.
và cộng sự đã nghiên cứu bào chế hệ mang lipid kích thƣớc nano của Zidovudin – một thuốc tan tốt trong nƣớc (25 mg/ml ở 20⁰C) bằng phƣơng pháp sử dụng hỗ trợ vi sóng. Precirol ATO 5 và Miglyol 812 đã đƣợc chọn làm lipid rắn và lipid lỏng. Công thức NLC tối ƣu có KTTPTB là 113 ± 3 nm, PDI khoảng 0,216 ± 0,010, giá trị EE%, LC% tƣơng đối thấp lần lƣợt là 22 ± 2% và 1,41 ± 0,02% [13]. và cộng sự đã nghiên cứu bào chế nano lipid rắn dùng ngoài với 5 corticoid có độ tan trong lipid khác nhau bao gồm hydrocortison, hydrocortison-21- acetat, hydrocortisone-21-butyrat, betamethason-17-valerat, hydrocortison-21-caprylat bằng phƣơng pháp đồng nhất hóa áp suất cao.
Kết quả giải phóng in-vitro cho thấy corticoid càng thân dầu thì sự giải phóng dƣợc chất từ hệ nano càng chậm.