Mở đầu Chƣơng 1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, đặc điểm sinh thái cây cao su và tình hình phát triển cao su ở Lai Châu. Nghiên cứu về nhiệt độ thấp và đánh giá đặc trƣng nhiệt độ thấp có hại cho cao su ở tỉnh Lai Châu. Nội suy dữ liệu không gian bằng thông tin viễn thám và GIS phục vụ xây dựng bản đồ phân bố nhiệt độ thấp khu vực nghiên cứu.
Xây dựng các bản đồ chuyên đề nhiệt độ thấp tỉnh Lai Châu Kết luận và kiến nghị 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tài liệu tham khảo 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI CÂY CAO SU VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CAO SU Ở LAI CHÂU 1. Điều kiện tự nhiên tỉnh Lai Châu 1. Đặc điểm địa lý Tỉnh Lai Châu phía bắc giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, phía đông giáp tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La.
Phía tây và phía nam giáp tỉnh Điện Biên. Lai Châu có 1 thị xã và 6 huyện gồm: Thị xã Lai Châu, huyện Mƣờng Tè, huyện Phong Thổ, huyện Sìn Hồ, huyện Tam Đƣờng, huyện Than Uyên, huyện Tân Uyên (tách ra từ huyện Than Uyên). Bản đồ hành chính tỉnh Lai Châu Lai Châu là vùng núi trung bình và núi cao của khu Tây Bắc. Núi cao tập 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trung ở phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh, ở đây là phần cuối cùng cao nguyên Vân Quý (Trung Quốc).
Nhìn chung các dãy núi cao có hƣớng Tây Bắc – Đông Nam, phần phía bắc một số đỉnh cao từ 2000 – 2500m; dãy Hoàng Liên Sơn án ngữ ở Đông – Bắc, có nhiều đỉnh cao 2500 – 3000m, trong đó bao gồm đỉnh Fanxifăng cao nhất cả nƣớc. Mặt khác, về cấu trúc địa hình còn mang một số đặc điểm chung là: núi thấp dần và đổ dồn xuống các sông và suối lớn, núi non xen kẽ với các thung lũng sông, khe suối và các bồn địa. Lọt vào giữa các dãy núi có rất nhiều dải trũng rộng, tạo thành những cánh đồng hẹp kéo dài, trong đó vùng núi tƣơng đối bằng phẳng của Bình Lƣ nối liền với cánh đồng rộng Than Uyên ở phía đông. Một cách khái quát có thể chia địa hình tỉnh Lai Châu ra 4 kiểu địa hình: - Địa hình vùng núi có độ cao từ 500 - 1000m, đại diện là khu vực huyện Tam Đƣờng.
- Địa hình vùng núi cao từ 1000 - 1500m vùng này có độ chia cắt rất mạnh, địa hình hiểm trở; độ dốc trên 300 rất khó khăn cho việc bố trí sản xuất, lòng suối dốc có nhiều hang động, đại diện loại địa hình này là huyện Phong Thổ. - Địa hình vùng núi cao từ 1800 - 3000m, phân bố chủ yếu trên dãy núi biên giới Việt - Trung của huyện Mƣờng Tè. Độ dốc địa hình lớn hơn 300 và thảm thực vật rừng còn khá, do núi non hiểm trở nên dân cƣ sống ở vùng này rất thƣa thớt. - Kiểu địa hình đồi núi thấp và thung lũng: Xen kẽ những dãy núi cao là những thung lũng sâu, hẹp hình chữ V và một số thung lũng có địa hình tƣơng đối bằng phẳng nhƣ Mƣờng So, Tam Đƣờng, Than Uyên.
Tỉnh có tới 58% diện tích với cao độ trên 800m; trên 20% diện tích cao độ từ 600-800m; 20% diện tích ở độ cao 300-600m. Cao độ dƣới 300m chỉ chiếm khoảng 2% diện tích toàn tỉnh. Trong đó trên 90% diện tích có độ dốc trên 250. Do đặc điểm của điạ hình, đá mẹ, khí hậu và thực vật, thổ nhƣỡng Lai Châu hình thành các nhóm đất sau: + Đất đỏ vàng trên đá sét (F S): Diện tích 105.115 ha, chiếm 11,9% diện tích 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đất của vùng, phân bố tại khu vực núi thấp và trung bình, địa hình đồi tru ng bình dọc theo các con suối, độ PH = 4 - 4,5 thích hợp trồng cây dài ngày, cây ăn quả.
+ Đất mùn đỏ vàng trên đá sét (H S): Diện tích 503.925 ha, chiếm 57,2% tổng diện tích đất, đất có đá lộ đầu, đá lẫn ở nơi tầng mỏng, PH = 6 - 6,5 thích hợp với trồng khoanh nuôi bảo vệ rừng. + Đất mùn vàng nhạt trên đá cát (Hq): Diện tích 212.655 ha, chiếm 24,1% diện tích đất. Đất có phản ứng chua PH = 3,92 ở tầng đất mặt và có sự thay đổi giữa các tầng. Hàm lƣợng chất hữu cơ trung bình và giảm nhanh theo độ sâu, tỷ lệ NPK không cân đối, lân tổng số nghèo, đạm tổng số trung bình, kali tổng số giàu.
Đất thích hợp với trồng cây lâu năm. Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 9.065,123 km2, chủ yếu là các loại đất đỏ và vàng nhạt phát triển trên đá, cát, đá sét và đá vôi, có kết cấu khá chặt chẽ. Đất nông nghiệp đã sử dụng khoảng 64.299,9 ha chiếm 7,09% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó đất ruộng lúa, màu là 13.781,44 ha, đất nƣơng rẫy 32.225,91 ha, đất trồng cây hàng năm khác 7.898,56 ha, đất trồng cây lâu năm (chủ yếu là chè) 3.066,88 ha, đất vƣờn tạp 1.093 ha, đất đồng cỏ chăn nuôi 5.978 ha, mặt nƣớc nuôi trồng thuỷ sản 409 ha. Đất lâm nghiệp đang có rừng 283.667 ha, độ che phủ đạt 31,3%, hầu hết là rừng phòng hộ, trong đó rừng tự nhiên là 274.651 ha, rừng trồng 9.
Đất chuyên dùng có khoảng 4.489,61 ha, trong đó đất giao thông 2.982,52 ha, đất xây dựng 377,26 ha, đất ở 1. Đất trống đồi núi trọc có khả năng sử dụng còn rất lớn khoảng 525.862 ha (chiếm 58% diện tích tự nhiên), trong đó đất bằng chƣa sử dụng là 1.743,69 ha và đất đồi núi chƣa sử dụng là rất lớn, khoảng 524. Tỉnh Lai Châu có nhiều sông suối. Sông có nhiều thác ghềnh, dòng chảy lƣu lƣợng lớn nên tiềm năng thuỷ điện rất lớn.
Sông Đà bắt nguồn từ Vân Nam – Trung Quốc. Dòng chính sông Đà chảy vào nƣớc ta tại xã Ka Long huyện Mƣờng Tè tỉnh Lai Châu. Phần sông Đà nằm trong lãnh thổ nƣớc ta dài 570km, diện tích lƣu vực 26600km2. Sông Nậm Na (F=6860km2) – một nhánh của sông Đà cũng từ Trung 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quốc chảy vào nƣớc ta tại Nậm Cúm huyện Phong Thổ - Lai Châu.
Một số sông nhánh khác của sông Đà là Nậm Pô (F=2280km2), Nậm Mức (F=2930km2), Nậm Mu (F=3400km2), Nậm Bú (F=1410km2), Nậm Sập (F=1110km2), Suối Sập (F=402km2), Suối Tác (F=524km2). Hàng năm, mùa lũ trên các sông suối thƣờng bắt đầu vào tháng 5 (ở các sông suối nhánh của sông Đà) còn trên sông chính bắt đầu vào tháng 6. Mùa lũ thƣờng kéo dài từ tháng 5, 6 đến tháng 10 với tổng lƣợng dòng chảy chiếm tới 75 - 80% tổng lƣợng dòng chảy năm. Mùa kiệt kéo dài tới 7 tháng (từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 5 năm sau) nhƣng tổng lƣợng dòng chảy chỉ chiếm 15 - 20% dòng chảy năm.
Tháng kiệt nhất thƣờng xảy ra vào tháng 3 và tháng 4. Tỉnh Lai Châu có một số loại khoáng sản giá trị cao nhƣ vàng, kim loại màu, đất hiếm…, song chƣa đƣợc đầu tƣ thăm dò, đánh giá đầy đủ. Đất hiếm gồm các loại quặng barít, florit ở Nậm Xe (Phong Thổ) với trữ lƣợng trên 20 triệu tấn. Các điểm quặng kim loại màu nhƣ đồng, chì, kẽm ở khu vực Sin Cai, Bản Lang, Tam Đƣờng với trữ lƣợng khoảng 6.
Đá lợp có ở ba điểm dọc theo bờ sông Đà, sông Nậm Na. Vàng ở khu vực Chinh Sáng (Tam Đƣờng), Bản Bo (Mƣờng Tè), Noong Hẻo, Pu Sam Cáp (Sìn Hồ). Tỉnh còn có một số điểm suối khoáng nóng chất lƣợng nƣớc khá tốt ở Vàng Bó, Than Uyên. Đặc điểm khí hậu Khí hậu Lai Châu là khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi, mùa đông lạnh và ít mƣa, có sƣơng muối.
Mùa hè nóng, mƣa nhiều. Nửa cuối mùa đông là thời kì khô nóng chuyển tiếp sang mùa hè. Khí hậu Lai Châu đƣợc phân hoá thành 2 tiểu vùng có khí hậu rõ rệt là vùng thấp nhƣ Bình Lƣ, Tam Đƣờng, Than Uyên và vùng cao nguyên nhƣ Sìn Hồ, Phong Thổ. Diễn biến khí hậu các mùa Mùa đông: Lai Châu về mùa đông cũng chịu ảnh hƣởng của khối không khí cực đới lục địa ít nhiều bị biến tính qua lục địa hoặc qua biển và khối không khí 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiệt đới Thái Bình Dƣơng.
Lai Châu không chịu ảnh hƣởng trực tiếp của gió mùa cực đới, cho nên mùa đông lạnh và khô hơn so với vùng phía Đông Bắc. Thời tiết khô hanh cuối mùa khô nhiều nơi (độ ẩm giảm xuống dƣới 15% ở Sìn Hồ, Lai Châu). Ban ngày trời nắng nhƣng ban đêm lạnh giá, do mặt đất bức xạ mất nhiệt. Dao động nhiệt độ ngày đêm khá lớn nhiều khi tới 14-150C.
Sự lạnh đi mạnh mẽ của mặt đất tạo điều kiện thuận lợi để hình thành sƣơng mù bức xạ, đôi khi cả sƣơng muối và băng giá, nhất là ở vùng núi cao. Các giá trị tối thấp tuyệt đối của nhiệt độ đều xuất hiện trong loại hình thời tiết này. Ở vùng núi thấp: Mùa lạnh bắt đầu trung tuần tháng 11, kết thúc thƣợng tuần tháng 3 hoặc hạ tuần tháng 2; Vùng núi vừa có độ cao khoảng trên dƣới 1000m mùa lạnh bắt đầu từ trung tuần tháng 10, kết thúc vào mùa hạ tuần tháng 3; Ở độ cao từ 1500m trở lên quanh năm lạnh và mát. Mùa xuân : Là thời kỳ chuyển tiếp từ mùa đông sang mùa hạ, không khí cực đới lục địa biến tính còn ảnh hƣởng tới Lai Châu nhƣng với tần suất rất thấp và cƣờng độ yếu, không có khả năng gây những đợt rét mạnh.
Không khí nhiệt đới biển đã hoạt động khá mạnh mẽ. Sự kết hợp của hai khối không khí nói trên là nguyên nhân quan trọng nhất của các trận mƣa dông, mƣa đá và gió mạnh xảy ra vào thời kỳ cuối mùa xuân đầu mùa hạ. Về mùa xuân, ngoài một số ngày ấm áp dễ chịu, thời tiết thƣờng nắng nóng, gây ra hạn ở nhiều nơi. Mùa hạ : Về mùa hè, các khối không khí chủ yếu ảnh hƣởng đến Lai Châu là không khí nhiệt đới vịnh Bengan (luồng gió tây của gió mùa mùa hạ) và không khí nhiệt đới biển Thái Bình Dƣơng (luồng phía nam của gió mùa mùa hè).
Đầu mùa, không khí nhiệt đới vịnh Bengan thƣờng mang lại thời tiết nóng oi, kèm theo dông nhiệt. Luồng gió mùa mùa hạ phía tây, mang lại không khí vịnh Bengan, vốn phát sinh trong khu vực biển nhiệt đới xích đạo của bắc Ấn Độ Dƣơng.