Chương 1 TỎNG QUAN 1. Phân loại Giới: Plantae Bộ: Orchidales Họ: Orchidaceae Tên khoa học: Dendrobinm nestor Tên thường gọi: Lan Trầm Tím Hình 1.1 Lan Hoàng thảo Trầm Tím Lan Trầm Tím thuộc lớp một lá mầm Monocotyỉedones, là loài có phân bố rộng thường mọc trên các cành cây ở cao độ khoảng 1.300 m tại các rừng cây nhiệt đới Lào, Campuchia, Thái Lan, New Guinea, Borneo, Indonesia, Malaysia and Sri Lanka.Ở Việt Nam lan Trầm Tím có nhiều trên dãy Trường Sơn từ Nam ra Bắc (Nguyễn Thiện Tịch, Hội HLCC-Tp HCM được trích bời Trằn Văn Bảo, 1999) và Lan thường mọc ưên các cành cây ở cao độ khoảng 1000 - 1300 m tại các rừng cây thuộc Đô Lương, Vinh, Krong Pha, Đà Lạt, Bào lộc, Đắc Lắc, Sồng Bé, Lộc Ninh, Sơn La, Lào Cai, v. Lan Trầm Tím được Veitch lai tạo từ giống cây Giả Hạc (Dendrobìum anosmum) và cày Song Hồng (Dendrobium parishii). Chính vì thế, lan Trầm tím được thừa hưởng rất nhiều nét đẹp của cây cha và cây mẹ.
Đó là sự thừa hưởng có chọn lọc nên vẻ đẹp của lan Trầm tim nổi bật hơn hẳn so với cha mẹ cả về hình dáng, màu sắc và hương thơm của hoa. Trong đó, thân của Trầm tím không quá dài cũng không quá 3 mập. nó hơi ngắn và có chiều hướng lén thẳng. Vì giống cha mẹ nên hoa của lan Trầm í ím có mùi thơm, tuy nhiên nó không quá hắc mã lại rất dễ chịu, khiến lòng người mê đâm.
Mùa xuân, những bông hoa tím hóng đua nhau khoe sắc, nổi bật lên giữa muôn vàn loài hoa khác. Lan Giả Hạc (Dendrobium Lan Sông Hồng (Dendrobium anosmum) parishỉí) Hoa Dendrobium nestor Lan Trầm Tím (Dendrobium nestor) Hình 1.2 Hình ảnh cày lan Già hạc (Dendrobium anosmum), lan Sông Hồng (Dendrobìum parìshii) và lan Trầm Tím (Dendrobium nestor) 4 1. Dặc (liếm thực vật học chí lan Hoàng thảo 1. Rễ Sự đa dạng về hình thái cấu trúc rễ đã ỉàm cho chi lan Hoàng thảo phù hợp với điêu kiện sống như khi sống trong đất thi rễ mập.
thản rễ bò dài (Trần Hợp, 2000). Rễ của các đại diện chi Hoàng thảo là rễ khí sính, thường mảnh, hình trụ, màu xanh và chuyên thành nâu khi già, chúng thường ôm 'Áy giá thê hoặc buông thõng xuống. ơ một sô loài rê bám trên thân cây gỗ. làm nhiệm vụ lây nước, muối khoáng, hâp thu dinh dưỡng, rê được bao bọc bời lớp mỉ húi ầm dày bao gôm cả những lớp tế bào chết chứa đầy không khí do đó nó ánh lên —ĨU xám bạc.
Chiều dài rễ từ 0,1 - 0,3 cm, rễ thường mọc ra tử phần gốc của thân hoặc đôi khi có thể ở mấu thân của một vài loài (D. Thân Các đại diện của chi Hoàng thảo rất dễ nhận biết ngoài thiên nhiên. Đó là các cây thân thảo mọc cụm, đứng thẳng hoặc buông rũ xuống, phân đốt, sống phụ sinh ưên các cây gỗ hoặc một số sống bám trên đá, trong rừng ẩm. Chi lan Hoàng thảo thuộc nhóm đa thân {sympodiaĩ) với nhiều giả hành.
Đây là nhóm bao gồm các cây tăng trưởng liên tục nhưng có chu kỳ nghỉ sau những mùa sinh trường. Chúng vừa có thân thật vừa có giả hành, giả hành tuy là thân nhưng lại chửa diệp lục, dự trữ nước và nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của giả hành mới. cấu tạo giả hành gồm nhiều mô mềm chứa đầy dịch nhầy, phía ngoài có lớp biểu bì với vách tế bào dày, nhẵn bóng bảo vệ để tránh sự mất nước do sức nóng của mặt ười. Đa số các củ giả hành có màu xanh nên nó cùng với lá làm nhiệm vụ quang hợp (Trần Hợp, 2000).
Thân của các đại diện ưong chi Hoàng thảo đều phân đốt, hình trụ, hình con suốt, hình chùy hoặc hình trứng, có chiều dài thay đổi từ 2 - 3 cm đến 120 cm hoặc đôi khi hơn, kích thước phổ biến là 20 - 50 cm. Lát cắt ngang thân có thể là hình ưòn, bầu dục, đôi khi hình 3 cạnh nhưng được gọi chung theo kích thước ngang này là chiều dày, thay đổi từ 0,3 - 1,5 em nhưng đa số hay gặp là khoảng từ 0,5 - 1 cm. Thân có thể mảnh {sect. Grastidìum, sect.
Trongyle), đôi khi dẹt bên {sect. Oxystophyllum) hoặc là dày mập lên {sect. Phần dày mập lên của thân gồm một vài lóng ở sát gốc {sect. Crumenatae) hoặc ở sát đinh {sect.
Bolbidium) còn đa số ờ giừa thân đều dần lên đến 5 đinh vã xuông phía gốc. Dôi khi phán dày lên theo hình con suốt có 4 gờ sắc (sect. Cá biệt ở vài loài chỉ có các mấu day lén. còn lóng thì hầu như không làm thân có tràng hạt (sect.
Pendulum) hoặc sự day lén ỉa dán dẩn độc lập làm thành dạng đùi gà nôi tiêp (D. Phần tận cung '. gốc, nơi xuất phát của rễ thường là nhỏ mảnh nhưng cũng không ít trường hợp phir. Lá Lá mọc thành hai dãy so le nhau, không có cuống mà chỉ có bẹ ôm thân, ít khi không có bẹ (sect.
Lả phân bố suốt dọc thân nhưng ở nhiều đại diện lá tập trung 2-4 chiếc ở đinh thản (sect. Chrysotoxae), cũng có khi phần đỉnh thân chỉ có hoa mà không có lá ị £). Lá thường tồn tại khi cây ra hoa nhưng ờ nhiều loài lá rụng trước khi hoa nở. số lượng lá thay đổi nhiều có khi chỉ còn 3 - 5 lá, vài loài chỉ còn ỉ - 2 lá.
Lá thường cứng, dạng da bóng, ít khi nạc và mem (sect. Grastidium), bề mặt thường nhẵn, đôi khi lá còn non bề mặt bẹ và lá có phủ lông cứng ngắn màu đen sớm rụng (sect. Đa số lá có dạng lưng - bụng bình thường, đôi khi gặp vài đại diện có lá hình trụ (sect. Ngoài ra còn gặp lá dẹt bên tức là đường sống lưng và bụng trở thành “mép lá” nếu so sánh vị trí tương ứng với lá lưng - bụng bình thường (sect.
Lá nguyên, mép nhẵn, màu xanh có các gân hình cung. Lá thường có hình mác, bầu dục, đôi khi hình kiếm, hình thuôn hoặc ít khi lá hình thoi dài, hình nêm. Đỉnh lá nhọn hoặc tù, rất nhiều trường hợp lá xẻ 2 thùy nhọn, tù hoặc tròn lệch nhau. Chiều dài của lá thay đổi từ 1 - 19 cm và chiều rộng từ 0,3 - 3,5 cm.
Lá hình trụ thường có bề dày (từ 0,2 - 0,4 cm). Hoa Cụm hoa chùm thường nhiều hoa, đôi khi ít hoa hoặc đơn độc. Cụm hoa dài thường thõng xuống, nhiều loài có cụm hoa đẹp và giá trị cao. Hoa lưỡng tính, đối xứng hai bèn.
Màu sắc hoa sặc sỡ. Hoa đa số các loài đều có hương thơm, bao hoa chìa hai vòng. Vòng ngoài gồm 1 lá đài giữa và 2 lá đài bên. Vòng trong gồm có 2 cánh hoa và một cánh môi.
6 Căm hoa là một bộ phận dược hình thảnh nhờ mép phần gốc 2 lá đài bên dính nhau và dính với thân cột. hình túi đến hình cựa, hình trụ cong ít nhiều. Cánh môi: So với cánh đài, cánh hoa ít nhiều có kích thước và màu sắc khác biệt. Tuy nhiên, ngay trong các cánh hoa thi cánh môi khác nhiều so với các thành phân còn lại của bao hoa cả về màu sắc, kích thước lẫn sự sắp xếp.
Trang trí đa dạng trên cánh môi như đốm, vạch, diềm tua, u lồi. đường sống, lông phủ chiếm vị trí khá quan trọng trong phân loại. Nhiều đại diện c: gốc cánh môi dính với chân cột tạo thành cựa. Cột: Cột hay còn gọi là trụ nhị - nhụy ưự thường thấp, mặt trước hơi lõm lòng máng, đỉnh cột lõm để chứa khối phấn, hai mẽp đinh cột có 2 răng cột, phủ lên đinh cột là nắp bao phấn.
ở gốc cột có mỏ, thường là một phẩn phụ dạng màng nhô ra nhằm ngăn cách bao phấn với nhụy. Chỗ thấp hất phía dưới cột là chân cột, thường hình tam giác thuôn và có tuyến mật. Bao phấn hình mũ, bề mặt thường nhẵn hoặc có nhũ mịn, đôi khi có lông nạc bao phủ. Khối phấn hình chùy, không có chuôi, số lượng là 4 xếp thành 2 cặp.
Bầu hạ thường nhỏ và thon dần xuống cuống hoa, ranh giới giữa bầu và cuống hoa không rõ rệt, bầu 3 ô và có rất nhiều noãn. Quả Quả nang thường hình chùy hoặc hình con suốt, chứa rất nhiều hạt nằm xen lẫn những sợi lông mảnh. Khi quả già gặp trời ẩm sợi này sẽ hút nước và trương lên, phá vỡ vỏ quả giải phóng hạt ra ngoài. Hạt rất nhỏ hầu như khòng ttọng lượng, bao quanh hạt là lớp màng dạng mắt võng, trong suốt chứa đầy không khí dề dàng bay cùng hạt trong không khí nhờ gió.
Các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưỏng đến chi lan Hoàng thảo Lan Hoàng thảo {Dendrobiimì) là một thế giới vô cùng phức tạp, ngay sự ra hoa cũng thuộc loại khác nhau, được phàn chia thành 2 nhóm: một nhóm gồm các loài Dendrobuim ra hoa vào đầu mùa mưa do quá trình khô hạn frong mùa năng, nhóm khác ra hoa vào dịp tết và hiện chưa được biết chắc chắn là do ảnh hưởng của quang chu kỳ, nhiệt độ hay cả hai yểu tô. 7 Chi Dendrobìun rfỊĨ)ĩĩ\ nhiêu loài thích nghi với các điều kiện sinh thái khác nhau. Co the tạm chia chúng làm 2 nhóm chính: nhóm ưa lạnh và nhóm ưa nóng. Yêu cáu ngoại cảnh của 2 nhóm này như sau: 1.
Nhiệt độ Nhóm Dendrobium ưa lạnh sinh trường vả phát triển tốt ở nhiệt độ lý tưởng là 15 °C gôm các giông được lấy từ vùng cao nguyên sống trên cao độ 1000 m của Việt Nam và Mianma, như các loài Vảy cá (D. Amabile), Long nhãn kim điệp (Z).ểu được trồng ở nhiệt độ lớn hơn hoặc bàng 25 °C thì cây vẫn sống nhưng phát triền kém và rắt hiếm ra hoa. Nhóm Dendrobium ưa nóng gồm đa số các giống Dendrobium rừng cùa châu Úc, Indonesia, Malaysia và các loài Dendrữbỉưm lai, nhiệt độ thích hợp cho các loài này là 25 °C. Đặc biệt, các giống lai có thể chịu được nhiệt độ cao hơn nhiều.
Ngoài ra còn có một nhóm Dendrobiurn trung gian có thể sống ở cả vùng lạnh và vùng nóng nhưng thường các cây sống ở vùng lạnh thì sinh trưởng và ra hoa nhiều hơn như D. Chrysotoxum, nhiệt độ lý tưởng của các loài này là 20 °C. Ẩm độ Độ ẩm thích hợp giúp cho cây phát triển nhanh hơn nhưng hoa tươi và lâu tàn. Dendrobium cũng như đa số các giống lan khác chì phát triển tốt frong điều kiện không khí ẩm nhưng thoáng khí, vào ban ngày cày cần độ ẩm khoảng từ 40 - 60 % vào ban đêm độ ẩm thích hợp từ 60 - 90 % cây sẽ phát triền tốt hơn.