Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN 1. Khái niệm vị trí, vai trò của hình phạt tù có thời hạn 1.1 Khái niệm hình phạt tù có thời hạn Nhà nước thiết lập pháp luật để quản lý xã hội và bảo vệ lợi ích và quyền hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong xã hội. Bảo vệ của pháp luật thông qua nhiều góc độ không chỉ là những công dân bị xâm phạm mà ở một góc độ khác còn bảo vệ những người thực hiện hành vi xâm phạm bất hợp pháp đến người khác cần được pháp luật đối xử công bằng, cần được tương xứng, phù hợp. Khi một hành vi pháp luật xâm phạm đến khách thể của luật hình sự bảo vệ là chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, quyền bình đẳng giữa các dân tộc, lợi ích của Nhà nước, tổ chức…thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
Họ phải chịu sự trừng phạt của pháp luật bằng hình phạt được Bộ luật hình sự quy định. Điều 30 BLHS 2015 đưa ra khái niệm về hình phạt và quy định cơ quan có thẩm quyền áp dụng hình phạt đó chính là Tòa án nhằm làm hạn chế hoặc tước bỏ quyền và lợi ích của người phạm tội. Đề cập đến hình phạt Mác cũng cho rằng hình phạt là thủ đoạn tự vệ nhằm chống lại sự vi phạm.73 ] Hình phạt theo luật hình sự nước ta quy đinh gồm những hình phạt chính và những hình phạt bổ sung sẽ được áp dụng tương xứng với hành vi xâm phạm mà người phạm tội sẽ phải chịu. Một trong các hình phạt chính đó là phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, trục xuất, tử hình…ngoài ra họ còn có thể phải chịu thêm các hình phạt bổ sung khác.
Hình phạt tù có thời hạn là hình phạt chính được áp dụng hầu như ở tất cả các tội phạm quy định trong Bộ luật hình sự. Hình phạt tù có thời hạn đã tồn tại rất lâu trong truyền thống luật hình sự nước ta. Từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự hiện hành nước ta đã trải qua những văn bản quy 7 n phạm pháp luật mang tính đơn lẻ quy định hình phạt tù có thời hạn chưa thống nhất, thiếu chặt chẽ, thiếu hoàn chỉnh. Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời tạo một bước tiến thành công trong công cuộc phát triển pháp luật hình sự nước ta.
Tổng kết những kinh nghiệm đấu tranh chống phòng ngừa tội phạm ở nước ta trong mấy chục năm trước, lần đầu tiên các loại tội phạm và hình phạt được quy định thống nhất trong một văn bản là Bộ Luật hình sự. Trong các văn bản pháp lý , đa số đều ghi nhận rằng “ Tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để học tập, lao động, cải tạo” [34]. Bộ luật hình sự nước ta hiện hành quy đinh tại Điều 38 về tù có thời hạn buộc người phạm tội đã bị kết án phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn tại cơ sở giam giữ theo mức án bị Tòa án tuyên. Tòa án buộc người bị kết án phải thi hành bản án, cải tạo tại những cơ sở giam giữ như trại giam, trại tạm giam, tước đi quyền tự do đi lại và một số quyền khác của họ.
Nhà nước đặt ra hình phạt tù có thời hạn và quy định các mức hình phạt tù có thời hạn nặng nhẹ khác nhau tùy thuộc vào tính chất mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội do người phạm tội thực hiện. Quy định mức nặng nhẹ đó theo thời gian cải tạo ngắn hoặc dài tại cơ sở giam giữ. Tù có thời hạn đối với người phạm một tội phải chịu cách ly khỏi xã hội ít nhất là 03 tháng và mức nhiều nhất là 20 năm. Nếu như người phạm tội đã bị tạm giam, tạm giữ sẽ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù có thời hạn.
Bị tước đi quyền tự do trong một thời gian nhất định là đặc điểm pháp lý chính mà hình phạt này mang. Trong thời gian cải tạo giam giữ, bị án thực hiện đây đủ các quy định của cơ sở giam giữ. Họ sẽ được tham gia sinh hoạt văn hóa, học tập các công việc lao động, các nghề do cơ sở giam giữ tổ chức để từ đó nhận thức bản thân phải có ý thức trong xã hội và tôn trọng pháp luật. Nhà nước sẽ ân giảm cho những người cải tạo tốt về thời gian cải tạo để họ sớm được hòa nhập xã hội hơn.
Từ đây mục đích phòng ngừa chung của hình phạt tù có thời hạn được tuyên truyền đến những xung quanh. Việc người phạm tội bị cải tạo 8 n giam giữ thì họ vừa được rèn luyện cả ý thức và đồng thời ngăn ngừa họ không còn cơ hộ để gây ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cá nhân, tổ chức an toàn xã hội. Hình phạt tù có thời hạn so sánh với các hình phạt chính có chế tài không tước quyền tự do. Và thời hạn bị tước quyền tự do của hình phạt tù có thời hạn cũng là cơ sở để phân biệt với hình phạt tù chung thân.
Từ sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm: Hình phạt tù có thời hạn là một trong các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước được quy định trong BLHS, do Tòa án quyết định đối với người phạm tội, buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định từ 03 tháng đến 20 năm. Trong trường hợp tổng hợp hình phạt tù có thời hạn thì mức tối đa là 30 năm.2 Vị trí, vai trò của hình phạt tù có thời hạn Xét về mức độ nghiêm khắc, hình phạt tù có thời hạn đứng vị trí trước các hình phạt chính không bị cải tạo giam giữ và có vị trí đứng sau hình phạt cải tạo giam giữ không có thời hạn, hình phạt tử hình. Sự nghiêm khắc của hình phạt tù có thời hạn là người bị kết án bị tước quyền tự do, bị cách ly với xã hội, họ phải cải tạo lao động trong trại giam dưới sự quản lý và giám sát của lực lượng cảnh sát. Chế độ cải tạo và việc chấp hành hình phạt tù có thời hạn theo Luật thi hành án hình sự quy định và nghị định hướng dẫn của chính phủ.
Hình phạt tù có thời hạn tuy là biện pháp nghiêm khắc nhưng chưa phải là biện pháp nghiêm khắc nhất. Hình phạt tù có thời hạn mang tính chất cải tạo, giáo dục người phạm tội thành công dân có ích chứ không mang tính chất trả thù, hành hạ. Trong thời gian chấp hành hình phạt tù nếu họ tiến bộ sẽ được xét giảm thời gian chấp hành án. Toà án áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội.
Trong quá trình áp dụng luật hình sự sẽ có sự cân nhắc để áp dụng hình phạt tù có thời hạn. Thẩm quyền quyết định hình phạt được Hiến pháp và Bộ luật Hình sự nước ta quy định là cơ quan Tòa án. Từ đó, Toà án 9 n nhân danh Nhà nước thực hiện quyền của mình trên cơ sở căn cứ vào quy định của BLHS hiện hành tuyên bố áp dụng hình phạt đối với người bị kết án. Đây, thể hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự sẽ bị sự kết án, lên án của Nhà nước đối với coi thường pháp luật.
Áp dụng hình phạt tù có thời hạn có vai trò to lớn, bởi suy cho cùng, các hoạt động tố tụng hình sự trước đó (từ khởi tố, điều tra, truy tố, kể cả việc tranh tụng tại phiên toà) sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu Toà án không làm tốt việc áp dụng hình phạt cụ thể đối với người phạm tội. Khi áp dụng hình phạt tù có thời hạn đúng theo quy định của pháp luật và xem xét cả tính công bằng, hợp lý sẽ đạt được hiệu quả cao của mục đích hình phạt. Nếu hình phạt tù có thời hạn quá nhẹ sẽ không thể hiện được tính răn đe người phạm tội vì họ thấy hành vi của mình không sợ chịu trách nhiệm hình sự, coi thường pháp luật và sẽ tiếp tục có ý định phạm tội. Nhưng tuyên mức hình phạt tù có thời hạn quá nặng đối với người phạm tội sẽ có thái độ oán hận Nhà nước, họ cảm thấy không được đối xử công bằng và dẫn đến không tin tưởng pháp luật.
Ngoài ra, áp dụng hình phạt tù có thời hạn có vai quan trọng trong việc tuyên truyền pháp luật đến người dân ý thức học tập sinh hoạt trong khuôn khổ pháp luật không cấm. Người nào xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì chịu hình phạt thích đáng. Vì vậy, hình phạt tù có thời hạn cần được tuyên đúng người, đúng tội, đúng pháp luật để làm tròn vai trò mà bản thân hình phạt này mang. Khái niệm và các nguyên tắc, căn cứ áp dụng hình phạt tù có thời hạn 1.
Khái niệm áp dụng hình phạt tù có thời hạn Khi tìm hiểu về khái niệm áp dụng hình phạt cần phải hiểu sâu xa nguồn gốc, bản chất của áp dụng hình phạt. Áp dụng hình phạt là “Rễ” của “ Cây” thực hiện pháp luật. Một trong các hình thức của thực hiện pháp luật đó chính là áp dụng pháp luật. Trong chuyên nghành tìm hiểu Luật hình sự và tố tụng hình sự cụ thể được nghiên cứu về áp dụng hình phạt trong áp dụng pháp luật.
Dựa trên sự kiện pháp lý để xác định trường hợp cụ thể, xác định được tính 10 n chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội từ đó sẽ thu thập thông tin, kiểm tra và lựa chọn áp dụng pháp luật. Từ đây người áp dụng pháp luật căn cứ để quyết định hình phạt nào, cụ thể mức hình phạt đó như thế nào. Như vậy, áp dụng hình phạt là khái niệm rộng, bao hàm cả quyết định hình phạt. Quyết định hình phạt là dựa trên những căn cứ có sẵn mà áp dụng hình phạt đã tổng hợp để đưa ra hình phạt tương xứng, phù hợp.
Áp dụng hình phạt tù có thời hạn cũng vậy, dựa trên nội dung thông tin đã được nghiên cứu tổng hợp của áp dụng hình phạt để từ đó áp dụng cụ thể đối với hình phạt tù có thời hạn.