phần mở đầu cho cuốn sách mà ông xuất bản sau đó Culture Shift in Advanced Industrial Society (Sự chuyển đổi văn hóa trong xã hội công nghiệp tiên tiến) [125]. Những nghiên cứu này bàn về sự xuất hiện của các giá trị hậu vật chất và chủ nghĩa tập thể vốn bị chi phối bởi hành vi cá nhân và chủ nghĩa tư bản trong các xã hội trước đây. Inglehart tập trung vào những tranh luận về vai trò của văn hóa chính trị, ông cho rằng, sự hài lòng đối với cuộc sống ảnh hưởng đến văn hóa, xã hội và quan điểm chính trị, và đặc trưng văn hóa quốc gia tác động lớn đến sự phát triển kinh tế và thể chế - “Văn hóa không chỉ là hệ quả của kinh tế mà còn góp phần định hình bản chất cơ bản của đời sống kinh tế và chính trị” [125]. Ông lập luận, mỗi xã hội được định hình ở những mức độ khác nhau bởi các thái độ văn hóa khác nhau - chúng tương đối bền bỉ nhưng không bất biến.
Các mô hình văn hóa khi được xác lập có một sự tự chủ đáng kể và nó không chỉ không bị chi phối bởi các cấu trúc kinh tế xã hội mà còn có thể định hình các cấu trúc cơ bản của đời sống kinh tế xã hội. Một nghiên cứu của Wiarda, Political Culture and National Development (Văn hóa chính trị và sự phát triển quốc gia) [152] - bài báo đã đóng góp đáng kể vào giai đoạn “phục hưng” của những công trình về văn hóa chính trị. Lập luận chính của nghiên cứu này cho rằng, văn hóa chính trị là một biến độc lập và quan trọng như nhiều biến khác (kinh tế, thể chế,…) và chúng đều liên quan, chi phối lẫn nhau theo những cách thức tạp và thường xuyên biến đổi. Từ đó, tác giả đã thôi thúc một hướng tiếp cận đa nguyên nhân và hợp trội nhằm giải thích các hiện tượng chính trị xã hội khác nhau.
“Making Democracy Work: Civic Traditions in Modern Italy” (Làm cho dân chủ hoạt động: truyền thống công dân ở quốc gia Italy hiện đại) của Robert Putnam [145], là một công trình vừa thực nghiệm vừa hàn lâm. Ông kết hợp đan xen các cách tiếp cận văn hóa chính trị, phân tích thể chế và lựa chọn hợp lý nhằm đưa ra một hướng giải thích phá cách và tham vọng về 10 căn nguyên của một chính quyền hiện quả. Sự kết hợp các hướng giải thích này được Putnam mô tả bằng sự khác nhau giữa ba miền Bắc, Trung, Nam của nước Ý. Những kết luận quan trọng của ông là: Mỗi cá nhân có xu hướng thích nghi với các quy tắc hiện tại hơn là thay đổi chúng; Các thói quen và mô hình văn hóa có xu hướng giữ các nhịp phát triển trên quỹ đạo của nó; Các chuẩn mực và văn hóa chính trị (thể chế phi chính thức) thay đổi chậm hơn các thể chế chính thức và có xu hướng quay lại định hình các thể chế chính thức đó; Bối cảnh lịch sử và văn hóa có ảnh hưởng sâu sắc đến việc định hình tổ chức thể chế, chiều ngược lại cũng diễn ra nhưng chậm hơn; Sự biến đổi của văn hóa lẫn thể chế là một quá trình lâu dài.
The Wealth and Poverty of Nations (Sự thịnh vượng và nghèo đói của các quốc gia) của David Landes [12] có thể nói là một công trình truy tìm các yếu tố dẫn tới sự thịnh vượng và nghèo đói của các quốc gia trước một hiện thực là đa số các quốc gia giàu có, thu nhập trung bình cao lại tập trung ở các quốc gia phương Tây (Tây Âu và Bắc Mỹ) chứ không phải là các nước châu Á hay Mỹ Latinh. Sau những kiến giải về thể chế, công nghệ là không đủ, các nghiên cứu về địa lý cũng bị loại bỏ, David Landes đã tìm đến văn hóa như một yếu tố lý giải mạnh mẽ nhất và ông đã đánh giá cao Weber trong việc khai phá ra vai trò của văn hóa trong công trình The Protestant Ethic and the Spirit of Capitalism (Đạo đức tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản). Cultures and Organizations: Software of the Mind (Văn hóa và tổ chức: Phần mềm của tâm trí) của Hofstede [118]. Nghiên cứu này đã làm nên bước đột phá thực sự trong nghiên cứu về văn hóa chính trị khi nó phá vỡ các định kiến rằng lĩnh vực nghiên cứu này không có tính hệ thống, không khả kiểm và thiếu căn cứ khoa học.
Nghiên cứu này đặt ra hai câu hỏi quan trọng: Có những giải thích mang tính hệ thống cho sự khác biệt giữa các quốc gia hay không? Sự khác biệt có thể là những biểu hiện khác nhau của các chiều cạnh văn hóa? Theo đó, các cuộc khảo sát được thiết lập với quy mô ngày càng rộng lớn và phức tạp, được thực hiện trên quy mô toàn cầu và 11 mang tính định kỳ. Bắt đầu bằng cuộc khảo sát ở IMB đến các cuộc khảo sát Euro-Barometer nhằm nghiên cứu văn hóa trong doanh nghiệp; Sau đó nó được mở rộng nhằm nghiên cứu văn hóa chính trị quốc gia bằng Khảo sát hành vi tổ chức và lãnh đạo toàn cầu (GLOBE), Khảo sát giá trị Trung Quốc, Khảo sát Giá trị Thế giới (World Values Surveys) của Inglehart và cho đến nay vẫn được tổ chức định kỳ ở hầu hết các quốc gia (trong đó có Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của nó nhận được sự quan tâm, theo dõi của các nhà chính trị thực tiễn lẫn giới học thuật. Đồng thời nó đặt nền tảng lý thuyết và khái niệm cho rất nhiều công trình nghiên cứu sau đó về văn hóa và văn hóa chính trị (theo các chiều cạnh) như của Inglehart [127], Schwartz [147] và Minkov [139].
Công trình A Proposal for Clustering the Dimensions of National Culture (Một đề xuất cho việc tập hợp các chiều cạnh của văn hóa quốc gia) của Ammar Maleki và Martin de Jong (2014) đề xuất về các chiều cạnh của văn hóa quốc gia nhằm giảm bớt sự phức tạp của các định nghĩa, đồng thời tạo cơ sở cho các nghiên cứu so sánh về văn hóa xuyên quốc gia. Nghiên cứu là sự kế thừa và phát triển từ các đề xuất của Hoftede (2001) với công trình Culture’s Consequences: Comparing Values, Behaviors, Institutions, and Organizations Across Nations (Hệ quả văn hóa: So sánh các giá trị, hành vi, thể chế và các tổ chức xuyên quốc gia) và dự án GLOBE phát triển kết quả nghiên cứu của Hoftede (1980). Các tác giả Ammar Maleki và Martin de Jong cho rằng, việc chọn lựa số lượng các chiều cạnh văn hóa quốc gia tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, đồng thời cũng là sự lựa chọn của nhà nghiên cứu giữa tính tổng quát và sự cụ thể cho nhu cầu lý giải về đặc điểm văn hóa của mỗi quốc gia. Mặc dù gọi tên đối tượng là văn hóa quốc gia song dựa vào mục đích nghiên cứu nhất quán của tác giả cho thấy, đối tượng chính mà tác giả hướng đến là văn hóa chính trị quốc gia.
Đây là nền tảng cho những nghiên cứu của tác giả về tác động của văn hóa đến cấu trúc hệ thống chính trị, quá trình ra chính sách và mối quan hệ giữa văn hóa và dân chủ giữa các nước sẽ được tổng quan ở phần sau. 12 Culture Matters: How Values Shape Human Progress (Tác động cảu văn hóa: Các giá trị định hình sự tiến bộ của loài người như thế nào) [0] là công trình tập hợp từ các báo cáo trong một hội thảo được tổ chức ở đại học Harvard do Harrison và Huntington biên tập. Mặc dù, công trình không chứa đựng một phát kiến mới nào về mặt lý thuyết ở thời điểm đó (2000), song lại là bộ sưu tập khá đầu đủ của tất cả các lý thuyết về văn hóa chính trị trước đó. Nó nhấn mạnh thông điệp rằng, văn hóa chính trị là một biến quan trọng nhằm giải thích những thay đổi của đời sống chính trị.
Công trình Văn hóa chính trị và lịch sử dưới góc nhìn của văn hóa chính trị của Phạm Hồng Tung [86] tập hợp 14 chuyên luận bàn về các lý thuyết văn hóa chính trị và cách tiếp cận của các học giả phương Tây về văn hóa Á Đông. Trên cơ sở đó, tác giả tập trung lý giải các đặc trưng văn hóa chính trị Việt Nam dưới các tiếp cận của các điều kiện lịch sử cụ thể và cho rằng lịch sử xã hội là do con người sáng tạo nên trong những điều kiện lịch sử nhất định và theo những cách thức nhất định - mà cách thức này lại do nền tảng văn hóa - tổng hòa của các điều kiện khách quan và chủ quan của hoạt động sống của con người quy định. Những công trình nghiên cứu về văn hóa chính trị Việt Nam Công trình Văn hóa chính trị Việt Nam truyền thống và hiện đại của Nguyễn Hồng Phong [62] là công trình có tính tổng kết những truyền thống văn hóa chính trị Việt Nam với các giá trị về tính nhân văn, yêu nước và tinh thần cộng đồng. Giá trị nổi bật của công trình là những phân tích nguồn gốc của các đặc điểm văn hóa chính trị Việt Nam từ phương thức tổ chức thành cộng đồng, đến phương thức tổ chức phát triển kinh tế.
Công trình Bước đầu tìm hiểu những giá trị văn hóa chính trị truyền thống Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên (chủ biên) [40] đã nhận diện các giá trị cốt lõi của văn hóa chính trị Việt Nam truyền thống, qua đó nhóm tác giả đã chỉ ra cấu trúc văn hóa chính trị gồm hệ tư tưởng chính trị, tri thức chính trị, năng lực và niềm tin chính trị, giá trị chính trị. 13 Gần đây nhất là kết quả nghiên cứu tổng quan đề tài khoa học cấp bộ của Phan Xuân Sơn, Văn hóa chính trị Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế [75]. Công trình đã đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn về văn hóa chính trị Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đồng thời đúc rút ra các giá trị cốt lõi của văn hóa chính trị Việt Nam gồm 3 chủ nghĩa và 3 tinh thần: Chủ nghĩa yêu nước; chủ nghĩa cộng đồng; chủ nghĩa nhân văn; tinh thần thân dân; tinh thần hòa hiếu; tinh thần thượng võ.