Đặt vấn đề: Hiện nay Việt Nam là một trong những quốc gia có nguồn dược liệu tự nhiên đa dạng và phong phú về chủng loại và công cụ làm thuốc. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, việc bào chế và chiết xuất các loại dược liệu quý hiếm từ thiên nhiên đã và đang được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư. Đời sống của nhân dân ngày càng được nâng lên, nhu cầu khám chữa bệnh và sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ thảo dược ngày càng nhiều. Cây Thìa Canh là một trong số những loại cây trồng chứa hàm lượng các chất để làm dược liệu cao và hiện nay đang được trồng khá phổ biến.
Cây thìa canh (Gymnema sp.), họ la bố ma ( hay còn gọi là họ dừa cạn, họ trúc đào, họ thiên lý), Apocynaceae, là cây dược liệu được phân bố rộng rãi tại Việt Nam, loại cây này mới được tìm thấy vào năm 2006. Loài cây này ban đầu được tìm thấy tại một số nơi ở miền Bắc Việt Nam từ Hải Hưng, Hải Phòng, Hà Bắc, Ninh Bình tới Thanh Hoá. Hiện nay loài cây này được quy hoạch trồng thành vùng tại Nam Định và Thái Nguyên. Theo nhiều nghiên cứu thì loại dược liệu này có thể được sử dụng ở cả dạng khô và dạng tươi.
Tùy theo mục đích và cách sơ chế để làm thuốc chữa bệnh. Hầu như toàn thân cây đều có thể được tận dụng để làm thuốc và không có bộ phận nào bị bỏ phí. Sở dĩ dây thìa canh được coi là dược liệu vàng trong điều trị bệnh tiểu đường bởi trong dây thìa canh sở hữu lượng Axit Gymnemic dồi dào. Hoạt chất Axit Gymnemic có khả năng kích thích tuyến tụy sản xuất insulin một cách tự nhiên.
Mà insulin lại đóng vai trò quan trọng trong điều hòa lượng đường tự nhiên của cơ thể. Chính vì vậy, dây thìa canh có tác dụng tuyệt vời với những bệnh nhân tiểu đường. Thực tế từ hơn 2000 năm trước, người dân Ấn Độ đã biết dùng tới dây thìa canh để trị bệnh tiểu đường. Sau này, khi khoa học phát triển, các nhà khoa học đã chứng minh được tác dụng tuyệt vời của dây thìa canh 1 trong điều trị tiểu đường là nhờ lượng GS4 có trong dây thìa canh.
Ngoài việc hỗ trợ điều trị bệnh nhân tiểu đường, tim mạch, mỡ máu. Giúp hoạt huyết, tăng cường lưu thông máu, ổn định huyết áp thì dây thìa canh còn hỗ trợ tốt quá tình chuyển hóa, giảm béo, giảm cân, mệt mỏi căng thẳng, khó ngủ, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ngăn ngừa xơ vữa mạch máu, chống huyết khối và đặc biệt tốt cho người mắc bệnh tim mạch. Được biết hiện nay nhu cầu của con người về nguồn dược liệu ngày càng tăng, nguồn dược liệu con người đang sử dụng có thể được tổng hợp bằng nhiều con đường khác nhau như tổng hợp từ hóa học, tổng hợp từ vi sinh vật, song nguồn dược liệu từ thực vật đã được con người sử dụng từ rất lâu và nhu cầu ngày càng lớn. Tuy nhiên các loài cây trong tự nhiên đang bị giảm về số lượng và chất lượng bởi sự khai thác quá mức, các điều kiện ngày càng bất lợi của môi trường tự nhiên … dẫn đến nhiều loại cây dược liệu quý hiếm bị tuyệt chủng, ảnh hưởng đến nguồn cung cấp dược liệu bền vững cho con người.
Thế nhưng việc sản xuất và nhân giống dây thìa canh bằng phương pháp gieo hạt gặp nhiều khó khăn do khả năng nảy mầm của hạt kém, tỷ lệ nảy mầm thấp, ra rễ kém. Do đó, phương pháp nhân giống thay thế là giâm cành sẽ có lợi hơn trong việc đẩy nhanh nhân giống quy mô lớn, góp phần vào việc cải thiện và bảo tồn cây thìa canh, một cây thuốc nam rất có giá trị trong việc điều trị bệnh tiểu đường. Từ những lý do trên tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hường của thời vụ và giá thể đến khả năng nhân giống bằng giâm cành cây thìa canh (Gymnema sp.) tại Gia Lâm Hà Nội”.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.1 Mục đích - Xác định thời vụ và giá thể thích hợp nhân giống 2 loại thìa canh lá to và thìa canh lá nhỏ, góp phần xây dựng quy tình kỹ thuật nhân giống thìa canh bằng giâm cành.2 Yêu cầu - Đánh giá thời vụ giâm hom ảnh hưởng đến khả năng nhân giống của thìa canh lá to. - Đánh giá thời vụ giâm hom ảnh hưởng đến khả năng nhân giống của thìa canh lá nhỏ.
- Đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ giâm hom của thìa canh lá to tại Gia Lâm Hà Nội. - Đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ giâm hom của thìa canh lá nhỏ tại Gia Lâm Hà Nội. 3 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Giới thiệu chung về cây thìa canh 2.1 Vị trí phân loại, nguồn gốc và phân bố Thìa canh có tên khoa học là Gymnema sp. có nguồn gốc từ rừng nhiệt đới miền trung và miền nam Ấn Độ.
Ở Việt Nam cũng đã tìm thấy loại cây này ở một số nơi miền bắc từ Hải Hưng, Hải Phòng, Hà Bắc, Ninh Bình tới Thanh Hoá. Hiện nay loài cây này được quy hoạch trồng thành vùng tại Nam Định và Thái Nguyên Thìa canh thuộc họ la bố ma ( hay còn gọi là họ dừa cạn, họ trúc đào, họ thiên lý), Apocynaceae. Cây thân thảo thuộc chi Gymnema, có tên gọi khác là dây thìa canh, dây muôi, loã ti rừng. Thìa canh có 2 loại là: Thìa canh lá nhỏ (Gymnema Sylvestre (Retz.
ex Schult): hay còn gọi là thìa canh thường, cây bé và có nhựa màu trắng. Dược chất trong cây thìa canh lá nhỏ không nhiều. Để phân biệt thìa canh lá nhỏ, người ta thường nhai thử một phiến lá tươi, sau đó ăn đồ ngọt. Nếu vẫn cảm thấy được vị ngọt hoặc thời gian mất vị giác với đường không lâu thì là cây thìa canh lá nhỏ.
Thìa canh lá to (Gymnema latifolium Wall. Ex Wigh): có phiến lá bầu dục, nhưng lá to hơn khi so sánh với thìa canh lá nhỏ. Nhựa thìa canh lá to có màu vàng. Dược tính của thìa canh lá to cũng mạnh hơn, đem lại hiệu quả lâu hơn so với thìa canh lá nhỏ.
Với ưu điểm lá lớn hơn, dược tính mạnh hơn, không có độc tính nên thìa canh lá to được nhân giống và nuôi trồng tại các vườn dược liệu.2 Đặc điểm thực vật học của cây thìa canh Theo dược điển Việt Nam 5, Thìa canh là loại cây thân thảo dây leo sống hằng năm dài tới 6 m, đường kính tới 3 mm. Thân non màu xanh, phủ lông mịn; thân già màu nâu, có lỗ vỏ, đường kính lỗ vỏ từ 0,5-1 mm. Toàn cây có nhựa mủ màu trắng hay hơi vàng. Cuống dài 3-5 mm; đường kính 2-3mm; phiến hình bầu dục, trứng hay trứng ngược, dài 6-7cm, rộng 2,5-5cm, gốc thuôn, mép nguyên, ngọn nhọn; có 4-6 cặp gân phụ, rõ ở mặt dưới, nhăn lúc khô; cuống dài 5 cm đến 8 cm.
Hoa nhỏ màu trắng hơi vàng, xếp thành xim dạng tán ở nách lá, dài 8mm, rộng 12-15mm. Đài chia 5, các thuỳ dài 1mm, có lông mịn và rìa lông. Tràng 5, dính nhau thành ống, dài 1,8-2 mm, mặt ngoài nhẵn; tràng phụ gắn với tràng, có 5 răng, dính với họng tràng. Cột nhị nhụy hình trụ, dài khoảng 1,5mm, rộng 0,8-1mm.
Bộ nhị có bao phấn ngắn; khối phấn gồm hai thùy, dài khoảng 0,2mm, liên kết với nhau nhờ trung đới màu vàng nâu. Bộ nhụy có vòi với đầu rộng hình nón, vượt quá bao phấn. Quả đại dài 5-6cm, rộng ở dưới, đường kính chỗ lớn nhất khoảng 1,5cm. Hạt dẹp, dài 3mm, có mào lông màu trắng, dài khoảng 3-3,5cm, thường có khoảng 40 hạt trong một quả.
Vi phẫu Dây thìa canh: Phần gân lá: Hơi lồi ở mặt trên, từ dưới lên trên bao gồm: biểu bì dưới, gồm một lớp tế bào hình tròn, đôi lúc có lông che chở đa bào; sát với biểu bì là 3 lớp đến 5 lớp mô dày dưới, có thành dày; bó libe-gỗ gồm có các mạch gỗ phía trong, cung libe ở ngoài bao quanh tùy ở giữa gân chính; mô mềm gồm các tế bào hình trứng thành mỏng, rải rác trong gân lá có tinh thể calci oxalat hình cầu gai; mô dày trên gồm 3 đến 4 lớp tế bào có cấu tạo tương tự như mô dày dưới; biểu bì trên gồm một lớp tế bào hình chữ nhật. 5 Phần phiến lá: Biểu bì trên và dưới gồm một lớp tế bào hình chữ nhật, xếp đều đặn, có mang lông che chở đa bào. Mô dậu cấu tạo bởi 2 đến 3 hàng tế bào hình chữ nhật xếp vuông góc biểu bì trên, chiếm một phần năm bề dày phiến lá. Mô khuyết nằm ở phần thịt lá, cấu tạo bởi những tế bào tròn xếp lộn xộn, để hở những khuyết nhỏ.
Tiếp giáp giữa mô khuyết và mô giậu là các bó libe-gỗ của gân phụ và các mạch. Thân: Mặt cắt thân hình tròn, từ ngoài vào trong bao gồm: lớp bần, gồm 2 đến 3 hàng tế bào hình chữ nhật xếp thành hệ đồng tâm, có nhiều lỗ vỏ lớn. Ở thân non là lớp biểu bì gồm 1 lớp tế bào hình chữ nhật, xếp đều đặn thành hàng, có nhiều lông che chở đa bào; mô mềm vỏ gồm nhiều lớp tế bào hình trứng, thành mỏng; các bó sợi liền nhau hoặc tạo thành đám; libe-gỗ gồm có libe quanh tủy, bao xung quanh mạch gỗ phía trong; gỗ cấp hai xếp thành vòng tròn để hở các tia ruột rất nhỏ; trong cùng là lớp mô mềm ruột. Bột Dây thìa canh có màu xanh, mùi thơm nhẹ.
Soi dưới kính hiển vi thấy: Lông che chở đa bào, mảnh mô mềm, mảnh biểu bì mang lỗ khí; tế bào lỗ khí; mảnh bần gồm các tế bào thành mỏng, tinh thể calci oxalat hình cầu gai, mạch xoắn, mạch vạch, mạch đồng tiền, sợi và bó sợi.3 Yêu cầu sinh trưởng Trồng dây thìa canh phải chọn vùng đất cao, thoát nước tốt, đất càng mùn và tơi xốp càng tốt cho cây, độ pH từ 5 - 6,5. Khi làm đất phải cày sâu, phơi ải để diệt trừ sâu bệnh hại, dùng cuốc tạo hố, hố trồng cách vị trí rạch phân bón khoảng 10 cm. Luống cao 30 - 35 cm, chiều rộng luống phụ thuộc vào giàn che. Phủ rơm rạ lên mặt luống sau đó dùng ô doa để tưới luống cho đất đủ ẩm.
Cây giống xuất vườn phải có chiều cao từ 17 - 20 cm, cây khỏe mạnh, không sâu bệnh, có 13 - 15 lá. 6 Vật liệu làm giàn treo là tre, nứa, luồng có đường kính 3 - 4 cm, chiều dài khoảng 1,6 - 1,8 m vót nhọn một đầu để cắm xuống đất, trồng 2 hàng/luống, hàng cách hàng 1 m, cây cách cây 30 - 40 cm.