Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Hiện nay nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, chính vì vậy các loại cây trồng đóng vai trò đặc biệt quan trọng, trong đó cây ngô có những đóng góp rất lớn. Trong xu thế hội nhập và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, năng suất cây trồng của nhiều nước trên thế giới so với nước ta có sự vượt trội. Vấn đề thiết yếu của ngành nông nghiệp nước ta hiện nay là cải tiến năng suất và chất lượng sản phẩm cây trồng nói chung và cây ngô nói riêng.
Thời vụ là một trong những yếu tố quan trọng của ngành trồng trọt. Kiểu gen tốt chỉ được biểu hiện trong một phạm vi nhất định của môi trường. Trong chế độ canh tác, làm đúng ở thời vụ tối ưu, nhất là lúc gieo trồng thì nâng cao được năng suất 10 - 15% trong điều kiện tác động đồng thời của các yếu tố thâm canh khác. Vì vậy, nghiên cứu và thực hiện chế độ thời vụ đối với mỗi loại cây trồng, loại giống, mỗi công thức luân canh trong từng vùng khí hậu đất đai là vấn đề phải được coi trọng.
Ở Việt Nam, ngô có thể trồng được quanh năm, tuy nhiên để xác định được thời vụ thích hợp cho từng giống sẽ tận dụng được tối đa tiềm năng cho năng suất của giống. Cùng một vùng sinh thái, cùng một tổ hợp con lai và biện pháp kỹ thuật chăm sóc giống nhau được so sánh qua những thời vụ gieo trồng khác nhau sẽ biểu hiện khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất khác nhau, chất lượng sản phẩm khác nhau. Bên cạnh đó, mật độ, khoảng cách trồng cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất của ngô. Nếu trồng với mật độ thấp thì cây sinh trưởng tốt, bắp to, tăng số hạt trên bắp nhưng số lượng cây ít, nên năng suất không tăng.
Nếu mật độ cao thì số cây trên diện tích gieo trồng tăng nhưng cây và trọng lượng bắp nhỏ, do đó cần xác định mật độ trồng hợp lý. Cần căn cứ vào giống, điều kiện đất đai và mùa vụ để xác định mật độ và khoảng cách trồng thích hợp. n 4 Theo Minh Tang Chang (2005)[43], năng suất ngô của Mỹ trong hơn 40 năm qua tăng thêm 58% là nhờ đóng góp của giống lai đơn, 21% là nhờ tăng mật độ và 5% nhờ thu hẹp khoảng cách hàng. Bằng nhiều phương pháp người ta đã không ngừng cải thiện được mật độ trồng ngô trên thế giới.
Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành “Quy trình kỹ thuật thâm canh ngô lai đạt năng suất trên 7 tấn/ha ở các tỉnh miền Bắc”. Trong đó khuyến cáo, với các giống dài ngày nên trồng với mật độ từ 5,5 - 5,7 vạn cây/ha, các giống ngắn và trung ngày trồng 6,0 – 7,0 vạn cây/ha với khoảng cách giữa các hàng là 60 – 70 cm [1]. Tuy vậy, nhiều nơi bà con nông dân chưa trồng đạt mật độ khuyến cáo. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến năng suất ngô trong sản xuất của nước ta chỉ mới đạt 30 - 40% so với năng suất thí nghiệm (trong điều kiện thí nghiệm nhiều giống đã đạt 12 - 13 tấn/ha).
Hiện nay, ngô nếp được trồng với khoảng cách 70 x 25 cm - mật độ 5,7 vạn cây/ha. Tuy nhiên, với thời gian sinh trưởng ngắn và thu hoạch bắp tươi là chính nên có thể thu hẹp khoảng cách hàng để tăng mật độ, từ đó tăng hiệu quả kinh tế. Xuất phát những cơ sở khoa học trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài này. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam 1.
Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Ngô còn là cây điển hình được ứng dụng nhiều thành tựu khoa học về các lĩnh vực di truyền học, chọn giống, công nghệ sinh học, cơ giới hoá, điện khí hoá và tin học. vào công tác nghiên cứu và sản xuất (Ngô Hữu Tình, 1997)[22]. Trên thế giới, ngô là một trong những cây ngũ cốc quan trọng, diện tích đứng thứ 3 sau lúa mì và lúa nước; sản lượng xếp thứ hai và năng suất cao nhất trong các cây ngũ cốc.1 cho chúng ta thấy: Năm 1961, diện tích ngô toàn thế giới đạt 105,48 triệu ha, năng suất 19,4 tạ/ha, sản lượng 205 triệu tấn, đến năm 2013 diện tích trồng ngô thế giới đạt 184,24 triệu ha, năng suất bình quân 55,17 tạ/ha, sản lượng 1016,43 triệu tấn. Năng suất và sản lượng ngô thế giới tăng dần qua các năm là nhờ sử dụng giống ngô lai và kỹ thuật trồng trọt tiên tiến, năng suất ngô trên thế giới đã tăng 2,84 lần và sản lượng tăng 4,96 lần trong vòng 52 năm (1961 - 2013).
Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 1961- 2013 Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ ha) (triệu tấn) 1961 105,48 19,4 205.00 2004 147,47 49,45 729,21 2005 147,44 48,42 713,91 2006 148,61 47,53 706,31 2007 158,60 49,63 788,11 2008 161,01 51,09 822,71 2009 156,93 50,04 790,18 2010 162,32 51,55 820,62 2011 170,39 51,84 883,46 2012 178,55 48,88 872,79 2013 184,24 55,17 1016,43 Nguồn: FAOSTAT,2014 [39] Hiện nay tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới cũng đã có nhiều thay đổi, thể hiện cụ thể qua số liệu bảng 1. Sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2013 Diện tích Năng suất Sản lượng Nước (triệu ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) Mỹ 35,48 99,69 353,70 Trung Quốc 35,26 61,75 217,73 Braxin 15,32 52,58 80,54 Mexicô 7,10 31,94 22,66 Ấn Độ 9,50 24,52 23,29 Ý 0,80 80,96 6,50 Đức 0,50 88,28 4,39 Hy Lạp 0,19 115,00 2,18 Israel 0,005 225,56 0,11 Nguồn: FAOSTAT, 2014[39] n 6 Theo FAO, việc sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới đang có sự mất cân đối giữa cung và cầu dẫn đến tình trạng các nước nhập khẩu ngô tăng dần, các nước xuất khẩu ngô giảm dần từ nay đến những năm đầu thế kỷ XXI. Xuất khẩu ngô đã đem lại nguồn lợi lớn cho các nước lớn sản xuất ngô như Mỹ, Trung Quốc, Achentina, Hungari,… (trích theo Ngô Hữu Tình, 2003)[24]. Trung Quốc được xem là cường quốc đứng thứ hai trên thế giới, sau Mỹ, và đứng thứ nhất trong khu vực châu Á trong lĩnh vực sản xuất ngô lai với tốc độ tăng trưởng ngày càng tăng.
Hiện nay, Mỹ và Trung Quốc là hai quốc gia có diện tích trồng ngô lớn nhất và cao gấp nhiều lần so với các quốc gia khác trên thế giới. Các nước khác như Ý, Đức, Hy Lạp, Ix-ra-en,. mặc dù năng suất ngô cao nhưng sản lượng vẫn còn thấp do diện tích trồng ngô chưa được mở rộng. Nhu cầu ngô tăng mạnh là do dân số thế giới tăng nên nhu cầu về thịt, cá, trứng, sữa tăng mạnh dẫn đến đòi hỏi lượng ngô dùng trong chăn nuôi tăng.
Hơn nữa trong những năm gần đây khi nguồn dầu mỏ đang cạn kiệt thì ngô được coi là nguồn nguyên liệu chính để chế biến ethanol, một loại nhiên liệu sạch dùng để thay thế một phần nguyên liệu xăng dầu. Tại Mỹ, nước sản xuất ethanol lớn nhất thế giới, 1/4 sản lượng ngô được dùng để sản xuất ethanol, chỉ riêng lượng ngô dùng cho chương trình ethanol của Mỹ đã tương đương hơn một nửa nhu cầu ngũ cốc của thế giới. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam Cây ngô là một trong những cây trồng quan trọng trong hệ thống cây lương thực quốc gia (Ngô Hữu Tình và cs, 1997)[23]. Sự phát triển ngô ở Việt Nam đã được CIMMYT và FAO cũng như các nước trong khu vực đánh giá cao.
Việt Nam đã đuổi kịp các nước trong khu vực về trình độ nghiên cứu tạo giống ngô và đang ở giai đoạn đầu đi vào công nghệ cao (công nghệ gen, nuôi cấy bao phấn và noãn) (Ngô Hữu Tình, 2003)[24]. Ở nước ta, ngô là cây trồng nhập nội và mới được đưa vào trồng khoảng 300 năm. Song cây ngô được trồng trong điều kiện sinh thái rất khác nhau từ 8-230 B. Địa bàn trồng ngô trải rộng trên nhiều vùng và bị chia cắt rõ rệt về địa hình, thời tiết, khí hậu, thủy văn… Ngô là cây lương thực quan trọng đứng thứ 2 sau lúa ở Việt Nam, những năm gần đây nhờ có những chính sách khuyến khích và nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, cây ngô đã có những bước tiến về diện tích, năng suất và sản lượng được thể hiện cụ thể qua bảng 1.
Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam trong giai đoạn 2004- 2013 Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tạ/ ha) (nghìn tấn) 1960 198,60 10,0 198,50 1980 389,60 11,2 436,35 1990 432,00 15,5 671,00 2000 730,20 27,5 2005,10 2004 991,1 34,6 3. Từ những năm 1960 diện tích, năng suất, sản lượng ngô của nước ta không ngừng tăng lên, năm 1960 diện tích chỉ đạt 198,60 nghìn ha nhưng đến năm 2013 diện tích đạt 1172,6 nghìn ha, tăng lên 5,9 lần và sản lượng tăng 26.16 lần tương ứng với năm 1960 năng suất đạt 10,0 tạ/ha đến năm 2013 năng suất đạt 44,3 tạ/ha. Diện tích, năng suất, sản lượng tăng lên đáng kể do nước ta đã chuyển đổi từ sản xuất quảng canh sang thâm canh, ứng dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật và đưa giống mới vào sản xuất. Tuy nhiên nước ta vẫn đang đứng trước rất nhiều thách thức * Những thách thức đối với sản xuất ngô ở Việt Nam: Mặc dầu đã đạt được những kết quả quan trọng nhưng ngành sản xuất ngô Việt Nam đang có rất nhiều vấn đề đặt ra: n 8 1) Năng suất vẫn thấp hơn so với trung bình thế giới khoảng 82% và rất thấp so với năng suất thí nghiệm.
2) Giá thành sản xuất còn cao. 3) Sản lượng chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước đang tăng lên rất nhanh. Những năm gần đây phải nhập ngô hạt để làm thức ăn chăn nuôi. 4) Sản phẩm ngô còn đơn điệu.
5) Công nghệ sau thu hoạch chưa được chú ý đúng mức. Nhiều vấn đề đặt ra cho ngành sản xuất ngô thế giới nói chung và nước ta nói riêng đó là: Khí hậu toàn cầu đang biến đổi phức tạp, đặc biệt là lũ lụt, hạn hán ngày càng nặng nề hơn, nhiều sâu bệnh mới xuất hiện, sản xuất ngô nhiều nơi gây nên tình trạng xói mòn, rửa trôi đất, giá công ngày càng cao, cạnh tranh gay gắt giữa ngô với cây trồng khác. Với công tác chọn tạo giống, bộ giống ngô thực sự chịu hạn và với các điều kiện bất thuận như đất xấu, đất chua phèn, kháng sâu bệnh… nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả cho người sản xuất vẫn chưa nhiều.