MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Rau là loại thực phẩm cung cấp các loại dinh dưỡng thiết yếu như: Vitamin, lipit, protein, và các loại khoáng chất quan trọng như: Canxi, photpho, sắt… rất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể con người. Rau còn cung cấp lượng lớn chất xơ, làm tăng nhu mô ruột và hệ tiêu hóa, là thực phẩm hỗ trợ sự di chuyển thức ăn qua đường tiêu hóa, giúp bộ máy tiêu hóa hoạt động tốt. Đặc biệt khi lương thực và các loại thức ăn giàu đạm đã được đảm bảo nhu cầu về rau xanh lại càng gia tăng, như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ. Ngành sản xuất rau cung cấp cho chúng ta sản phẩm của các loại cây rau hàng năm, hai năm là một bộ phận quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.
Củ cải (Raphanus sativus L.) là loại rau thuộc họ hoa thập tự, được ưa chuộng, có giá trị dinh dưỡng cao. Người ta có thể chế biến được rất nhiều món ăn từ củ cải như: luộc, sào, nấu, muối chua, kim chi, và làm cả bánh ngọt. Các nhà y tế còn đánh giá rất cao về khả năng chữa bệnh của củ cải, nó được ví như là “nhân sâm trăng”có nhiều công dụng tốt cho sức khỏe như cung cấp các vitamin và nhiều nguyên tố vi lượng cho cơ thể tang cường khả năng miễn dịch. Bên cạnh đó theo đông y củ cải là một loại thuốc có tác dụng tốt giúp cơ thể tiêu đờm thanh nhiệt và giải độc.
Viêt Nam cũng có điều kiện khá thuận lợi cho sản xuất củ cải có thể trồng quanh năm. Những năm gần đây, thị trường tiêu thụ rau xanh trong nước và thế giới ổn định, kinh tế đối ngoại có nhiều cơ hội phát triển đó là điều kiện thuận lợi tiềm năng cho ngành rau phát triển. Tuy ngành trồng rau trong đó có củ cải có nhiều khởi sắc nhưng trên thực tế vẫn chưa theo kịp nhiều ngành khác trong sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt là ở các tỉnh Trung du miền núi phía c 2 Bắc, diện tích trồng rau nói chung và củ cải nói riêng có nhiều biến động qua các năm.
Năng suất chỉ bằng một nửa so với năng suất trung bình của cả nước. Có nhiều nguyên nhân làm cho năng suất củ cải ở các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc còn thấp đó là do điều kiện thời tiết gặp khó khăn, thường xuyên xảy ra mưa lũ, đất đai kém dinh dưỡng, chưa có bộ giống củ cải chuẩn và tốt. Đặc biệt là giống dùng cho chế biến công nghiệp và xuất khẩu còn quá ít không đáp ứng đủ nhu cầu của sản xuất do vậy phải nhập ngoại, giá thành cao và không chủ động trong sản xuất. Bên cạnh đó giống dùng cho ăn tươi, tiêu thụ nội địa năng suất còn thấp, kém hiệu quả.
Phần lớn giống đều là những giống thuần với năng suất thấp, dễ nhiễm sâu bệnh hại. Đồng thời các giống này lại được người dân tự sản xuất và để giống trong một thời gian dài nên rất dễ bị thoái hoá. Một vài năm gần đây, việc chuyển sang trồng giống củ cải ưu thế lai F1 đã khắc phục được những nhược điểm của các giống địa phương nhưng giá thành giống cao và không thích ứng rộng với các thời vụ trồng và các vùng sinh thái khác nhau điều này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng của củ cải. Vấn đề đặt ra là phải tìm được những giống củ cải có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, thích ứng với điều kiện thời tiết ở Trung du miền núi phía Bắc nói chung và trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên nói riêng đảm bảo cho năng suất cao, ổn định đặc biệt là chất lượng dinh dưỡng mà giá thành sản xuất thấp phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
Do vậy, để phát triển cây củ cải tại Thái Nguyên việc lựa chọn giống phù hợp và xác định biện pháp canh tác thích ứng sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu sản xuất. Để cải tạo và đa dạng hóa nguồn giống rau phong phú, khắc phục tình trạng sản xuất chỉ dựa vào mùa vụ em thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trƣởng và phát triển của một số giống củ cải tại Thái Nguyên” c 3 1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu Lựa chọn được giống củ cải phù hợp với khí hậu huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Yêu cầu - Theo dõi sự sinh trưởng và phát triển của các giống củ cải thí nghiệm.
- Nghiên cứu các đặc điểm hình thái và sinh lý ( chiều dài lá, chiều rộng lá, chiều dài củ, đường kính củ…) của các giống thí nghiệm. - Theo dõi khả năng chống chịu của các giống thí nghiệm ( khả năng chống chịu sâu bệnh) - Đánh giá các yế u tố cấ u thành năng suấ t và năng suấ t của các gi ống củ cải trong vụ Xuân Hè năm 2017 tại Thái Nguyên. - Sơ bộ hạch toán kinh tế 1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1.
Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho việc chọn giống củ cải có năng suất chất lượng cao phù hợp với điều kiện sinh thái của Phú Bình, Thái Nguyên. Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài góp phần chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, tăng năng suất và hiệu quả kinh tế, khai thác tiềm năng đất đai, góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho các hộ nông dân. - Kết quả của đề tài góp phần bổ sung giống chất lượng cao vào cơ cấu giống củ cải ở vùng trung du có cùng điều kiện sinh thái nhằm tăng năng suất, chất lượng và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất. c 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 2. Cơ sở khoa học Giống cây trồng là yếu tố quan trọng quyết định rất lớn trong việc tăng năng suất và cải thiện chất lượng sản phẩm. Sản phẩm của các chương trình giống cây trồng không chỉ tạo ra các giống mới có ưu thế hơn các giống hiện có, mà điều quan trọng là phải duy trì và nhân ra nhiều lô giống có chất lượng tốt cung cấp cho nông dân. Chọn giống có hiệu quả là giải quyết tốt mối quan hệ phức tạp giữa các tính trạng trong cơ thể cây trồng và mối quan hệ cũng phức tạp giữa cây trồng và môi trường để đảm bảo cho giống có năng suất cao và ổn định, chống chịu sâu bệnh tốt, phù hợp với yêu cầu thâm canh và điều kiện sản xuất của địa phương.
Công tác khảo nghiệm giống là một cuộc thí nghiệm nhằm xác định sự thích ứng của giống đối với địa phương trên các loại đất, các loại khí hậu và các biện pháp kĩ thuật khác. Nếu những giống mới chưa được khảo nghiệm kĩ lưỡng và chưa được công nhận là đạt tiêu chuẩn mà đã đưa ra sản xuất ở diện rộng thì sẽ gây hiện tượng rối loạn giống, gây khó khăn cho việc sản xuất, thâm canh tăng năng suất cây trồng. Trong sản xuất cần nắm vững các đặc trưng và đặc tính của giống để từ đó có biện pháp kỹ thuật tác động thích hợp nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Cơ sở thực tiễn Khí hậu của Phú Bình mang đặc tính của khí hậu của miền núi trung du Bắc Bộ.
Khí hậu của huyện thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, gồm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng tư c 5 năm sau. Mùa hè có gió Đông Nam mang về khí hậu ẩm ướt. Mùa đông có gió mùa Đông Bắc, thời tiết lạnh và khô. Phú Bình có tổng diện tích đất tự nhiên 24.936 ha, trong đó đất nông nghiệp có 20.219 ha, (chiếm 81%), trong đó đất sản xuất nông nghiệp 13.570 ha (chiếm 54,3%), đất lâm nghiệp 6.218 ha (chiếm 25%), đất nuôi trồng thủy sản 431 ha (chiếm 1,7%), đất phi nông nghiệp 4.
Như vậy trong cơ cấu đất đai của huyện, đất sản xuất nông nghiệp chiếm tới 54,3% trong khi đất lâm nghiệp chỉ chiếm 25%. Điều đó chứng tỏ nông nghiệp vẫn giữ vị trí hàng đầu trong kinh tế của huyện. Về cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp, năm 2007, trong tổng số 13.690 ha trồng cây hàng năm khác (chiếm 20%) và 3.430 ha trồng cây lâu năm (chiếm 25%). Như vậy mặc dù là một huyện trung du nhưng cây trồng chủ đạo vẫn là lúa, và cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả không phải là thế mạnh của sản xuất nông nghiệp của huyện.[7] Những năm gần đây đã áp dụng nhiều kết quả nghiên cứu trong sản xuất rau nói chung và củ cải nói riêng, bước đầu đã đưa lại những kết quả nhất định.
Tuy nhiên năng suất cũng như chất lượng sản phẩm vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Do đó để có cơ sở vững chắc nhằm phát triển cây củ cải tại Phú Bình, trong từng điều kiện cụ thể của từng vùng sản xuất công tác nghiên cứu sự thích nghi, tuyển chọn các giống phù hợp với địa phương là hết sức cần thiết. Các giá trị của củ cải - Về giá trị dinh dƣỡng Các loại rau nói chung và củ cải nói riêng là loại thực phẩm cần thiết trong đời sống hàng ngày và không thể thay thế. Rau được coi là nhân tố quan trọng đối với sức khỏe và đóng vai trò chống chịu với bệnh tật.
Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà dinh dưỡng học trong và ngoài nước khẩu phần ăn c 6 của người Việt Nam cần khoảng 2.500 Calo năng lượng hàng ngày để sống và hoạt động. Ngoài nguồn năng lượng cung cấp từ lương thực, rau góp phần đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho cơ thể con người. Rau không chỉ đảm bảo cung cấp chỉ số Calo trong khẩu phần ăn mà còn cung cấp cho cơ thể con người các loại vitamin và các loại khoáng đa, vi lượng không thể thiếu được cho sự sống của mỗi cơ thể. Liều lượng vitamin trong rau khá cao lại dễ kiếm.
Theo các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng lượng rau chiếm từ 30 – 40% trong bữa ăn hàng ngày. Trong khi xã hội ngày một phát triển nên việc dùng rau trong bữa ăn hàng ngày càng tăng. Trong khẩu phần ăn của người dân hiện nay rau cung cấp khoảng 95 – 99% nguồn vitamin A, 60 – 70% nguồn vitamin B2, gần 100% vitamin C và các loại vitamin khác [2]. Nếu trong khẩu phần ăn lâu ngày mà thiếu rau xanh thì thường xuất hiện các triệu chứng như : khô da, sần sùi, mắt mờ, quáng gà.