Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng liều lượng phân ntt đến khả năng sinh trưởng giống lúa nông lâm 7 vụ mùa 2014 tại trường đại học nông lâm thái nguyên

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng liều lượng phân NTT đến sinh trưởng giống lúa Nông Lâm 7 vụ mùa 2014 tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm

Chuyên ngành

Trồng trọt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2014

65
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng của phân bón NTT đến sinh trưởngnăng suất của giống lúa Nông Lâm 7 tại Thái Nguyên. Mục tiêu chính là xác định liều lượng phân bón NTT phù hợp để tối ưu hóa quá trình sinh trưởng và phát triển của giống lúa này. Nghiên cứu được thực hiện trong vụ mùa 2014 tại Trường Đại học Nông Lâm – Thái Nguyên, nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc áp dụng phân bón hữu cơ sinh học trong canh tác lúa.

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Việc sử dụng phân bón hóa học trong nông nghiệp Thái Nguyên đã dẫn đến nhiều vấn đề như ô nhiễm môi trường và tăng tỷ lệ sâu bệnh. Nghiên cứu này nhằm tìm ra giải pháp thay thế bằng cách sử dụng phân bón hữu cơphân bón vi sinh, giúp cải thiện hiệu quả phân bónnăng suất lúa.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm xác định liều lượng phân bón NTT tối ưu cho giống lúa Nông Lâm 7, từ đó đề xuất các biện pháp kỹ thuật trồng lúa hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất lúaquản lý dinh dưỡng cây trồng tại Thái Nguyên.

II. Tổng quan tài liệu

Phần này trình bày tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và ở Việt Nam, đặc biệt là tại Thái Nguyên. Nghiên cứu cũng đề cập đến các đặc điểm sinh học và sinh thái của cây lúa, cũng như tình hình sử dụng phân bón hữu cơphân bón vi sinh trong canh tác lúa.

2.1. Tình hình sản xuất lúa gạo

Theo thống kê của FAO (2013), Thái Nguyên là một trong những khu vực có diện tích trồng lúa lớn tại Việt Nam. Tuy nhiên, năng suất lúa vẫn chưa đạt mức tối ưu do việc sử dụng phân bón chưa hiệu quả.

2.2. Đặc điểm sinh học của cây lúa

Cây lúa trải qua ba giai đoạn chính: sinh trưởng dinh dưỡng, sinh sảnchín. Việc sử dụng phân bón NPKphân bón hữu cơ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các giai đoạn này.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua thí nghiệm nông nghiệp với các công thức bón phân NTT khác nhau. Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm sinh trưởng lúa, năng suất lúa, và mức độ sâu bệnh. Phương pháp bố trí thí nghiệm và quy trình kỹ thuật chăm sóc được thực hiện theo tiêu chuẩn.

3.1. Công thức thí nghiệm

Các công thức thí nghiệm được thiết kế với các liều lượng phân bón NTT khác nhau, từ đó đánh giá hiệu quả phân bón đối với giống lúa Nông Lâm 7.

3.2. Chỉ tiêu theo dõi

Các chỉ tiêu bao gồm chiều cao cây, tốc độ đẻ nhánh, năng suất lúa, và mức độ sâu bệnh. Dữ liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê để đưa ra kết luận chính xác.

IV. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy phân bón NTT có ảnh hưởng tích cực đến sinh trưởng lúanăng suất lúa. Liều lượng phân bón phù hợp giúp cải thiện chiều cao cây, tốc độ đẻ nhánh, và giảm mức độ sâu bệnh. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc sử dụng phân bón hữu cơphân bón vi sinh có thể thay thế một phần phân bón hóa học, góp phần bảo vệ môi trường.

4.1. Ảnh hưởng đến sinh trưởng

Các công thức bón phân bón NTT với liều lượng phù hợp giúp cải thiện chiều cao câytốc độ đẻ nhánh, từ đó tăng năng suất lúa.

4.2. Ảnh hưởng đến năng suất

Kết quả cho thấy phân bón NTT giúp tăng năng suất lúa lên đến 15% so với các phương pháp bón phân truyền thống.

V. Kết luận và đề nghị

Nghiên cứu khẳng định phân bón NTT là một giải pháp hiệu quả trong việc cải thiện năng suấtsinh trưởng lúa tại Thái Nguyên. Đề nghị áp dụng rộng rãi phân bón hữu cơphân bón vi sinh trong canh tác lúa để đạt hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường.

5.1. Kết luận

Phân bón NTT có ảnh hưởng tích cực đến sinh trưởng lúanăng suất lúa, đặc biệt là với giống lúa Nông Lâm 7.

5.2. Đề nghị

Cần tiếp tục nghiên cứu và áp dụng phân bón hữu cơphân bón vi sinh trong nông nghiệp Thái Nguyên để tối ưu hóa hiệu quả phân bónnăng suất lúa.

09/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây trồng thân thiết, lâu đời nhất của nhân dân ta và nhiều dân tộc khác trên thế giới, đặc biệt là các dân tộc Châu Á. Lúa gạo là lương thực chính của người Châu Á, cũng như bắp của dân Nam Mỹ, hạt kê của dân Châu Phi hoặc lúa mì của dân Châu Âu và Bắc Mỹ. Tuy nhiên có thể nói, trên khắp thế giới, ở đâu cũng có dùng đến lúa gạo hoặc các sản phẩm từ lúa gạo. Trên thế giới có hơn 110 quốc gia có sản xuất và tiêu thụ gạo với các mức độ khác nhau.

Việt Nam là nước có truyền thống lúa nước từ rất lâu đời, với diện tích diện tích lúa khá lớn, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nghề trồng lúa của nước ta có nhiều thay đổi tích cực. Từ một nước thiếu đói lương thực thường xuyên, đến nay sản lượng lúa gạo của chúng ta không những đáp ứng đủ nhu cầu lương thực trong nước mà còn dư thừa để xuất khẩu. Tuy nhiên trong điều kiện canh tác hiện nay. nghề trồng lúa vẫn chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân.

Người nông dân vẫn sử dụng nhiều phân bón để tăng năng suất, nhưng hiệu quả của nó lại không cao, mặt khác còn làm tăng mức độ sâu bệnh, gây ô nhiễm môi trường. Ở miền Bắc sản xuất lúa thuần đã được nhân rộng ở các tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Tây, Hà Nam, Sơn La, Bắc Kạn, Hòa Bình, Thanh Hóa. Với việc sử dụng các giống lúa khác nhau, kỹ thuật thâm canh ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất của mỗi giống lúa. Đặc biệt là kỹ thuật thâm canh mạ, áp dụng cấy mạ thâm canh sẽ rút ngắn được thời gian sinh trưởng của lúa trên ruộng cấy.

Mạ thâm canh đẻ nhánh từ các đốt đầu tiên, được chăm sóc tốt sẽ trở thành những bông hữu hiệu nhất. Phân bón NPK là rất cần thiết cho sự sinh trưởng phát triển của cây lúa, nhưng n 2 phân bón vi sinh, phân hữu cơ sinh học sử dụng cho việc bón lót sẽ giúp cho cây lúa sinh trưởng phát triển khỏe trong những giai đoạn đầu và tạo năng suất cao cho cây lúa sau này. Thái Nguyên có lịch sử trồng lúa lâu đời như ở các Huyện Phú Lương, Đồng Hỷ, Phổ Yên, Định Hóa. Trong cơ cấu giống lúa có hai xu hướng chủ yếu, người nông dân trồng lúa lai và lúa thuần.

Họ sử dụng phân bón cho lúa chủ yếu là phân bón tổng hợp NPK mà chưa chú trọng đến phân vi sinh, phân hữu cơ sinh học. Vì vậy, việc nghiên cứu lượng phân bón hữu cơ sinh học phù hợp sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả phân bón, tăng năng suất, chất lượng và mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân nơi đây và nhân rộng ra các nơi khác. Với mục đích đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: ‘‘Nghiên cứu ảnh hưởng liều lượng phân NTT đến khả năng sinh trưởng giống lúa Nông lâm 7 vụ Mùa 2014 tại Trường Đại học Nông lâm – Thái Nguyên.2 Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu liều lượng phân NTT đến khả năng sinh trưởng phát triển của giống lúa Nông lâm 7, từ đó tìm ra lượng phân phù hợp nhất cho giống lúa này. Ý nghĩa khoa học của đề tài Những kết quả thu được từ đề tài có thể ứng dụng và khuyến cáo ngoài sản xuất cho người nông dân, và là nguồn tài liệu tham khảo cho những đề xuất định hướng phát triển giống lúa Nông lâm 7 tại Thái Nguyên n 3 Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và ở Việt Nam 2.

Sản xuất lúa gạo trên thế giới Theo thống kê của FAO (2013), diện tích canh tác lúa toàn thế giới năm 2013 là 166,08 triệu ha, năng suất bình quân 4,48 tấn/ha, sản lượng 745,17 triệu tấn (Bảng 2. Trong đó, diện tích lúa của Châu Á là 146,18 triệu ha chiếm 88,01 % tổng diện tích lúa toàn cầu, kế đến là Châu Phi 10,90 triệu ha (6,56 %), Châu Mỹ 6,53 triệu ha (3,93 %), Châu Âu 2,34 triệu ha (1,40 %), còn lại diện tích và sản lượng lúa ở Châu Đại Dương chiếm tỷ trọng không đáng kể. Những nước có diện tích lúa lớn nhất là Ấn Độ 43,50 triệu ha; Trung Quốc 30,22 triệu ha; Indonesia 13,83 triệu ha; Thái Lan 12,37 triệu ha; Bangladesh 11,77 triệu ha và Việt nam 7,89 triệu ha. Mỹ và Trung Quốc là hai nước có năng suất lúa dẫn đầu thế giới với số liệu thống kê của FAO năm 2013 là 8,62 và 6,72 tấn/ha.

Việt Nam có năng suất lúa 5,58 tấn/ha cao hơn năng suất bình quân của thế giới là 4,48 tấn/ha nhưng chỉ đạt 64,73 % so với năng suất lúa bình quân của Mỹ. Những nước có sản lượng lúa nhiều nhất thế giới năm 2013 là Trung Quốc 203,29 triệu tấn; Ấn Độ 159,20 triệu tấn; Indonesia 71,28 triệu tấn; Bangladesh 51,50 triệu tấn; Việt Nam 44,07 triệu tấn; Thái Lan 38,78 triệu tấn và Myanmar 28,00 triệu tấn.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa trên thế giới năm 2013 Diện tích Năng suất Sản lượng Tên nước (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) Thế giới 166,08 4,48 745,17 Châu Á 146,18 4,61 674,72 Trung Quốc 30,22 6,72 203,29 Ấn Độ 43,50 3,66 159,20 Indonesia 13,83 5,15 71,28 Bangladesh 11,77 4,37 51,50 Thái Lan 12,37 3,13 38,78 Myanmar 7,50 3,73 28,00 Việt Nam 7,89 5,58 44,07 Philipines 4,74 3,88 18,43 Campuchia 3,10 3,01 9,34 Châu Mỹ 6,53 5,56 36,36 Brazil 2,34 5,01 11,76 Colombia 0,53 4,57 2,43 Mỹ 0,99 8,62 8,61 Ecuador 0,39 3,82 1,51 Châu Phi 10,90 2,66 29,02 Nigeria 2,60 1,80 4,70 Madagascar 1,30 2,77 3,61 Châu Âu 2,34 1,65 3,89 Italy 0,21 6,30 1,34 Nguồn: FAOSTAT, 2014 n 5 2. Sản xuất lúa gạo ở Việt Nam Năm 1987 sau đổi mới, diện tích đất trồng lúa của nước ta chỉ là 5,60 triệu ha. Sau 20 năm Việt Nam là thành viên thứ 150 của WTO năm 2007 diện tích đất trồng lúa là 7,30 triệu ha và không ngừng mở rộng diện tích, đến năm 2013 diện tích đất trồng lúa của nước ta đã là 7,89 triệu ha, tăng thêm 2,29 triệu ha so với năm 1987 Bảng 2.2: Diện tích lúa Việt Nam so với một số nước trên thế giới (1987 - 2013) Diện tích lúa (triệu ha) qua các năm Tên nước 1987 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Trung 32,19 28,91 29,24 29,62 29,89 30,05 30,13 30,22 Quốc Ấn Độ 38,80 43,91 45,53 41,91 42,86 43,97 42,41 43,50 Indonesia 9,92 12,16 12,30 12,88 13,25 13,20 13,44 13,83 Thái Lan 9,14 10,36 10,68 11,14 11,93 11,64 12,27 12,37 Việt Nam 5,60 7,30 7,40 7,43 7,49 7,65 7,75 7,89 Philipines 3,25 4,25 4,45 4,53 4,35 4,53 4,68 4,74 Brazil 6,00 2,90 2,85 2,87 2,72 2,75 2,41 2,34 Colombia 3,48 0,36 0,44 0,55 0,47 0,51 0,48 0,53 Ecuador 2,75 0,32 0,35 0,39 0,39 0,33 0,37 0,39 Italy 1,89 0,23 0,22 0,23 0,24 0,24 0,24 0,21 Nguồn: FAOSTAT, 2014 [15] Qua bảng 2.3 ta thấy 20 năm qua (1987 – 2007) năng suất từ 2,69 tấn/ha năm 1987 tăng lên 4,89 tấn/ha năm 2007 và tăng không ngừng lên 5,63 tấn/ha năm 2012, đến năm 2013 có giảm xuống còn 5,58 tấn/ha.

Nhưng qua hơn 20 năm năng suất lúa của Việt Nam đã tăng lên đáng kể và là 1 trong những nước trên thế giới có năng suất lúa cao nhất.3: Năng suất lúa Việt Nam và một số nước trên thế giới ( 1987 – 2013) Năng suất lúa (tấn/ha) qua các năm Tên nước 1987 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Trung Quốc 5,41 6,43 6,56 6,58 6,55 6,68 6,77 6,72 Ấn Độ 2,19 3,29 3,25 3,23 3,35 3,59 3,72 3,66 Indonesia 4,03 4,70 4,89 4,99 5,01 4,97 5,13 5,15 Thái Lan 2,01 3,00 2,96 2,88 2,88 3,10 3,05 3,13 Việt Nam 2,69 4,98 5,23 5,23 5,34 5,53 5,63 5,58 Philipines 2,62 3,80 3,77 3,58 3,62 3,67 3,84 3,88 Brazil 1,73 3,82 4,23 4,40 4,12 4,89 4,78 5,01 Colombia 5,35 6,02 6,29 4,51 4,22 4,65 4,80 4,57 Ecuador 2,82 4,35 4,06 4,00 4,33 4,47 4,21 3,82 Italy 5,61 6,62 6,19 6,79 6,12 6,04 6,42 6,30 Nguồn: FAOSTAT, 2014 [15] Những thành tựu trên là kết quả của việc tạo chọn các giống lúa mới năng suất cao, ngắn ngày, kháng sâu bệnh, chất lượng tốt và áp dụng các biện pháp thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng sinh thái 2. Nghiên cứu về hình thái và đặc điểm sinh học và các thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây lúa. Đời sống cây lúa bắt đầu từ lúc hạt nảy mầm cho đến khi lúa chín có thể chia làm ba giai đoạn chính: giai đoạn tăng trưởng (sinh trưởng dinh dưỡng), giai đoạn sinh sản (sinh dục) và giai đoạn chín. Giai đoạn tăng trưởng bắt đầu từ khi hạt nảy mầm đến khi cây lúa phân hóa đòng.

Giai đoạn này cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra nhiều chồi mới. Cây ra lá ngày càng nhiều và kích thước lá ngày càng tăng giúp lúa nhận nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinh dưỡng, gia n 7 tăng chiều cao, phát triển khóm và chuẩn bị các giai đoạn sau. Trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng thuận lợi, cây lúa bắt đầu phát triển khóm khi có lá thừ 5 - 6. Chồi ra sớm trong nương ạ gọi là chồi ngạnh trê.

Thời điểm có chồi tối đa có thể đạt được trước, cùng lúc ngay sau thời kỳ bắt đầu phân hóa đòng tùy theo giống lúa. Thời gian sinh trưởng của các giống lúa kéo dài hay ngắn khác nhau chủ yếu do iai đoạn tăng trưởng này dài hay ngắn. Giai đoạn sinh sản từ phân hóa đòng đến lúa trổ bông. Giai đoạn này kéo dài từ 27 - 35 ngày, trung bình 30 ngày và giống lúa dài hay ngắn ngày thường không khác nhau nhiều.

Lúc này, số chồi vô hiệu giảm nhanh, chiều cao tăng lên rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng. Đòng lúa hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, cuối cùng thoát ra khỏi bẹ của lá cờ: lúa trổ bông. Trong giai đoạn này, nếu đầy đủ dinh dưỡng, mực nước thích hợp, ánh sáng nhiều, không sâu bệnh và thời tiết thuận lợi thì bông lúa sẽ hình thành nhiều hơn và vỏ trấu sẽ đạt được kích thước lớn nhất của giống, điều kiện gia tăng trọng lượng hạt sau này. Giai đoạn chín từ lúc lúa trổ bông đến lúc thu hoạch.

Giai đoạn này trung bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới. Tuy nhiên, nếu đất ruộng có nhiều nước, thiếu lân, thừa đạm, trời mưa ẩm, ít nắng trong thời gian này thì giai đoạn chín sẽ kéo dài hơn và ngược lại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Ảnh hưởng của phân NTT đến sinh trưởng giống lúa Nông Lâm 7 tại Thái Nguyên" nghiên cứu tác động của phân bón NTT (Nitơ, Phospho, Kali) đến sự phát triển của giống lúa Nông Lâm 7. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng phân bón hợp lý không chỉ giúp tăng trưởng cây lúa mà còn nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Điều này mang lại lợi ích lớn cho nông dân trong việc cải thiện hiệu quả sản xuất lúa, đồng thời góp phần vào việc phát triển bền vững ngành nông nghiệp tại Thái Nguyên.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan đến giống lúa và phân bón, hãy tham khảo các tài liệu như Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và các mức phân đạm tới sinh trưởng phát triển và năng suất của giống lúa bt13 tại tam dương vĩnh phúc, nơi bạn có thể khám phá thêm về ảnh hưởng của mật độ cấy và phân bón đến năng suất lúa. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến giống lúa mt 10 trên đất phù sa tại bình định cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách liều lượng phân bón ảnh hưởng đến giống lúa khác. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ so sánh một số giống lúa có triển vọng tại tỉnh quảng bình để mở rộng kiến thức về các giống lúa tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực nghiên cứu lúa và phân bón.