Đặt vấn đề Việt Nam là nƣớc nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới, quanh năm có các sản phẩm nông nghiệp phong phú, đa dạng trong đó có rau quả. Nhiều nƣớc trên thế giới yêu thích rau quả Việt Nam đặc biệt là rau quả ở Lâm Đồng nhƣ bắp cải, bông cải, atiso, trà và đặc biệt là Dâu tây là món trái cây ƣu thích nhất của nhiều ngƣời không chỉ bởi màu sắc hấp dẫn mà còn vì những lợi ích của nó mang lại sức khỏe cho con ngƣời. Ngay nay việc trồng dâu tây đem lại nguồn thu cho ngƣời nông dân rất lớn đƣợc ví là loại cây “ hái ra tiền”. Với giá bán Dâu tây trái vụ trên dƣới 250-400 ngàn đồng mỗi kí, tổng doanh thu mỗi ngày là 36 triệu đồng.
Năng suất chính vụ mỗi ngày đạt từ 70 đến 80kg/1 sào tăng gấp 1.75 đến 2 lần so với lƣợng quả trái vụ. Ở nƣớc ta, việc trồng Dâu tây trong nhiều năm qua chỉ nhằm cung cấp cho nhu cầu tức thời trong nƣớc theo mùa vụ vì Dâu tây không thể để lâu, không thể dễ dàng chuyên chở nhƣ các loại quả khác mà Dâu tây trồng thích hợp nhất ở khu vực Đà Lạt-Lâm Đồng. Nhƣng do đây là loại quả có giá trị kinh tế và giá trị thẩm mĩ cao nên hiện nay không chỉ Đà Lạt mà những tỉnh khác trong nƣớc có khí hậu mát mẻ cũng đã và đang trồng thử nghiệm mô hình Dâu tây trên quy mô nhỏ song chƣa đem lại hiệu quả kinh tế cao nguyên nhân chủ yếu ở đây là chỉ trồng Dâu tây trên đất màu, gặp phải những hạn chế về chất lƣợng quả, cây còi chậm lớn, quả nhỏ và chua, nhiễm sâu bệnh, năng xuất chƣa cao.không đem lại hiệu quả so với trồng trên giá thể đƣợc phối trộn. Để góp phần giải quyết những khó khăn trên nhằm phát triển cây Dâu tây đến gần hơn với ngƣời tiêu dùng chúng tôi tiến hành đề tài:“Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng phát triển của cây Dâu tây tại Thái Nguyên ” n 2 1.Mục đích, yêu cầu của đề tài 1.
Mục đích - Đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của giá thể đến sinh trƣởng phát triển của cây Dâu tây, từ đó xác định đƣợc giá thể phù hợp nhất để áp dụng trong sản xuất.Yêu cầu - Theo dõi khả năng sinh trƣởng phát triển của cây Dâu tây trong từng giai đoạn sinh trƣởng phát triển - Nguyên cứu ảnh hƣởng của giá thể đến năng suất, chất lƣợng của quả Dâu tây - Đánh giá khả năng chống chịu với thành phần sâu bệnh hại và điều kiện ngoại cảnh tại Thái Nguyên 1.Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Vận dụng và kiểm nghiệm kiến thức đã học ra thực tiễn sản xuất - Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể trở thành tài liệu tham khảo, tƣ liệu khoa học cho quá trình học tập và nghiên cứu khác có liên quan. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu đề tài giúp chúng tôi biết đƣợc sự ảnh hƣởng của các giá thể đối với Dâu tây từ đó đề xuất đƣợc giá thể thích hợp để trồng Dâu tây và có thể áp dụng ra ngoài thực tiễn sản xuất. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài Giá thể đƣợc xem nhƣ là sự thay thế hoàn hảo cho đất.
Là nơi tạo điều kiện thích hợp cho sự nảy mầm và là chỗ bám vững chắc cho sự hình thành rễ cây. Việc sử dụng các giá thể phù hợp có ý nghĩa đặc biệt đối với cây trồng. Đất không phải môi trƣờng tốt cho cây con. Cho thêm cát hoặc cát kết hợp với than bùn sẽ tạo ra một hỗn hợp rất tốt.
Nhiều nơi đã và đang phát triển những hỗn hợp đặc biệt mà có thể sử dụng đƣợc. những hỗn hợp này không sử dụng đất ruộng khi đất ruộng bị ô nhiễm do sâu bệnh và do hóa chất. Sự khác nhau của môi trƣờng nhân tạo đƣợc thể hiện nhƣ sau: Theo Rebecca Tyson Northen (1974) [12] cho rằng, việc cấy phong lan con lấy ra từ ống nghiệm nên dùng 3 phần vỏ cây thông xay nhuyễn + 1 phần cát hoặc 8 phần Osmida xay nhuyễn + 1 phần than vụn. Giá thể này cho tỉ lệ sống của cây lan con cao và cây sinh trƣởng phát triển tốt.
Có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần của giá thể ảnh hƣởng đến chất lƣợng cây trồng. Tùy từng loại cây khác nhau mà giá thể có thành phần khác nhau. Theo kết quả điều tra của Viện Thổ Nhƣỡng Nông hóa (2003) [8], việc nghiên cứu và sử dụng giá thể cây con trong vƣờn ƣơm ở Việt Nam trên nhiều đối tƣợng cây trồng nhƣ: cây lâm nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả, rau giống và rau an toàn, hoa cây cảnh… kết quả nhóm hoa nhƣ sau: giá thể cho hoa và cây cảnh của công ty đất sạch Thành phố Hồ Chí Minh cũng có những tính chất, lý hóa học tƣơng đối thích hợp đối với cây trồng, nguyên liệu hữu cơ (xơ dừa) đƣợc xử lý tốt để phối trộn giá thể. Giá thể trồng hoa hồng của Thái Lan nhập về có nhiều hạn chế về dinh dƣỡng, cả hai loại Cúc và Hồng tỷ lệ hữu cơ còn ít do vậy giữ ẩm không cao.
Ở cây hoa hồng, các tác giả Đặng Văn Đông (2002) [4] cho biết khi gieo hạt làm gốc ghép cho vƣờn ƣơm tốt nhất là trong nhà che nilon hoặc giá thể n 4 treo trên khay. Cây gieo trên khay mọc đều hơn, nhanh hơn và rút ngắn đƣợc thời gian ƣơm cây. Khi gieo trên nền đất ngoài trời thì ta phải đƣa ra trồng sớm hơn vì sau trồng phải mất khoảng một tháng cây mới phục hồi sinh trƣởng. Với giá thể giâm cành, nó ảnh hƣởng rất lớn tới khả năng ra rễ và tỷ lệ sống của cây, các tác giả đã đƣa ra công thức tốt nhất là: 30% đất đồi + 30% đất phù sa + 40% trấu hun và 20% xỉ than + 40% đất phù sa + 40% trấu hun.
Theo Điền Viên- Tạp trí ngƣời làm vƣờn [11] nghiên cứu bƣớc đầu đƣa ra kết quả 5 công thức phối trộn giá thể cho 5 loại cây trồng nhƣ sau: cây hoa hồng Đà Lạt: 76,5% than bùn+ 13,5 bèo dâu + 10% đất; cây cảnh 76,5% than bùn + 6,75% trấu + 6,75 bèo dâu + 10% đất; hoa giống: 45% than bùn + 22,5 trấu + 22,5 bèo dâu + 10% đất; ớt: 67,5 than bùn + 22,5 trấu hun + 10% đất và cà chua: 67,5 than bùn + 22,5 bèo dâu + 10% đất. Theo Lê Xuân Tảo (2004) [5] đã tiến hành làm thí nghiệm để nghiên cứu loại giá thể thích hợp cho một số loài hoa trồng chậu là báo xuân, hoa hồng tiểu muội, cúc Indo. Trong đó tác giả đã đƣa ra kết luận, giá thể thích hợp để trồng cúc Indo trong chậu gồm 1/4 trấu hun + 2/4 mụn dừa + 1/4 phân chuồng, đồng thời tác giả cũng đề nghị giá thể thích hợp cho cây cúc nói chung là 2 phần đất vƣờn + 1 phần phân chuồng hoai mục + 1 phần than bùn + 1 phần đá mạt. Kết quả nghiên cứu của Jiang Qing Hai (2000) [3] cho thấy để cây sinh trƣởng phát triển tốt khi phối chế các vật liệu nuôi cấy cần chú ý các điều kiện cơ bản bao gồm các tính chất: - Tính chất vật lý: chủ yếu là mức độ tơi xốp, thông thoáng khí, khả năng hấp thu, khả năng hút nƣớc và độ dày của vật liệu.
- Tính chất hóa học: chủ yếu là độ chua (trị số PH) và mức độ hút dinh dƣỡng. - Tính chất kinh tế: chủ yếu là mức độ hữu hiệu của vật liệu nuôi cấy có thể sử dụng lại, dễ lấy, tiện lợi cho việc trộn, sạch sẽ, không mùi, giá rẻ. n 5 Ở Việt Nam,đã có một số nghiên cứu về giá thể đối với hoa, cây cảnh. Tác giả Nguyễn Phƣơng Thảo (1998) [6] cho biết: việc xác định môi trƣờng dinh dƣỡng cho cây rất quan trọng.
Loại giá thể khác nhau có ảnh hƣởng quyết định tới tỷ lệ sống khi đƣa cây con ra từ trong ống nghiệm. Hiện nay, nhiều loại hoa đƣợc nhân giống bằng phƣơng pháp invitro giai đoạn sau nuôi cấy trong ống nghiệm quyết định tỷ lệ sống và chất lƣợng cây con, yêu cầu của giá thể vừa đảm bảo độ tơi xốp, thoáng khí, có tính giữ ẩm cao, đồng thời phải hoàn toàn sạch mầm bệnh. Các nhóm giá thể phù hợp cho việc trồng lan tại Hà Nội: Xơ dừa cắt khúc 40%+ dƣơng xỉ 20%+ than củi 20%+ vỏ cây 20% trong đó có sử dụng Basurdin+ Validacin xử lý 0,1%-0,2% trên nền vƣờn ƣơm. Hoặc giá thể gồm 40% xơ dừa cắt khúc+ 40% dƣơng xỉ+ 20% vỏ cây trong đó sử dụng Basurdin+ Validacin xử lý 0,1%-0,2% trên nền vƣờn ƣơm.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh thƣờng sử dụng các loại giá thể là vỏ dừa cắt khúc 50%+ than củi 50% hoặc vỏ dừa cắt khúc 70%+ than củi 30% để trồng phong lan. Hiện nay trong thực tiễn sản xuất có rất nhiều hỗn hợp giá thể đƣợc sản xuất để sử dụng cho việc trồng rau, hoa trong các khay chậu nhựa hoặc bằng xốp. Các giá thể này đều có hàm lƣợng mùn và chất dinh dƣỡng cao, có độ tơi xốp tốt giúp cho bộ rễ phát triển, không bị ngập úng. Dựa trên những kết quả nghiên cứu trên nên việc thử nghiệm các hỗn hợp giàu dinh dƣỡng để trồng Dâu tây là hoàn toàn có cơ sở khoa học.
Cơ sở thực tiễn của đề tài 2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ Dâu tây trên thế giới và ở Việt Nam 2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ Dâu tây trên thế giới Dâu tây đƣợc ngƣời La Mã phát hiện và canh tác vào thời kỳ trung cổ. Ban đầu đƣợc trồng và sử dụng rộng rãi ở Anh, sau đó vào thế kỉ 17-18 đã trồng rộng ra vùng plougastel thuộc nƣớc Pháp, là trung tâm sản xuất Dâu tây ở Châu Âu. Hiện nay, có khoảng 20 loài Dâu tây khác nhau trên khắp thế n 6 giới. Dâu tây thích nghi nhiều loại sinh thái khác nhau: Ôn đới, Địa Trung Hải, cận nhiệt đới và á ôn đới.
Ngày nay, nghề trồng Dâu tây đƣợc phát triển rộng khắp với sản lƣợng ngày càng gia tăng nhƣ Châu Âu đã cung cấp gần 50%, Châu Á gần 15%, và Bắc Mỹ gần 30%. Sản lƣợng Dâu tây trên thế giới tăng rất nhanh từ 750.000 tấn năm 1961 lên 1,3 triệu tấn năm 1977 do mở rộng canh tác. Ở Mỹ năng suất tăng từ 5,8 tấn lên 13,1 tấn/ha[19] Bảng 2.