MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay khi cuộc sống con người được nâng cao, ngoài những nhu cầu về vật chất thì những nhu cầu về thẩm mỹ, về tinh thần ngày càng trở nên cấp thiết với mức độ hoàn mỹ hơn. Từ xưa cho tới nay trong cuộc sống hoa luôn đóng một vai trò quan trong mà khó có một giá trị thẩm mỹ nào có thể thay thế được. Dường như hoa trở thành một phần tất yếu trong cuộc sống của con người, hoa giúp cho tinh thần của con người được thư thái và hưng phấn hơn.
Hoa không chỉ đem lại giá trị tinh thần mà còn có ý nghĩa rất lớn về mặt kinh tế. Hiện nay trong các loài hoa da dạng ở nước ta, hoa Lily có tên khoa học là Lilium, là một trong những loại hoa cao cấp có giá trị cao với vẻ đẹp sang trọng, màu sắc phong phú đang trở thành hoa được ưa thích nhất Việt Nam. Chính vì vậy loài hoa này đang được trú trọng phát triển Cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội, nhu cầu về hoa ngày càng đòi hỏi phải có những giống hoa mới, hấp dẫn để đáp ứng được thị hiếu của thị trường. Hoa lily tabledance là một trong những giống hoa mới nhưng đã hấp dẫn người tiêu dùng bởi có màu sắc đẹp và lạ, có hương thơm và có độ bền hoa cắt cành cao, dễ thu hoạch và bảo quản đã được nhập nội vào nước ta trong những năm gần đây để thay thế các giống cũ: Sobonne, Robina.
Trong khi nhu cầu thực tế luôn đòi hỏi những hoa lily mới có màu sắc hấp dẫn, bông to, có mùi thơm, thời gian chơi hoa lâu. Tại một số vùng trồng hoa đã nhập giống từ nước ngoài nhằm bổ sung giống cũ, song việc nhập giống rất bất cập vì giá thành cao, nhiều giống nhập về tỏ ra không thích ứng gây thiệt hại cho người sản xuất. Luan van 2 Vì là một giống hoa lily mới nên chưa có nhiều công trình nghiên cứu về kỹ thuật trồng và chăm sóc đặc biệt là kỹ thuật xử lý củ giống nên chất lượng hoa chưa cao, năng suất hoa chưa tốt. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian xử lý lạnh đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa Lily Tabledance tại Thái Nguyên”.
Mục tiêu của đề tài Xác định được thời gian xử lý lạnh phù hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao cho giống hoa lily tabledance tại tỉnh Thái Nguyên. Yêu cầu của đề tài Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian xử lý lạnh khác nhau đến sự sinh trưởng, phát triển của giống hoa lily tabledance. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian xử lý lạnh khác nhau đến năng suất, chất lượng của giống hoa lily tabledance 1. Ý nghĩa của đề tài 4.1 Ý nghĩa khoa học: Là cơ sở khoa học để xác định ảnh hưởng của xử lý củ giống trồng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng hoa lily tabledance tại Thái Nguyên.
Là tài liệu tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu hoa nói chung và hoa lily nói riêng. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy trình trồng, chăm sóc cho giống hoa lily tabledance Luan van 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Xử lý lạnh củ giống được xác định là điều kiện tiên quyết để điều tiết ra hoa. Củ giống lily có tập tính ngủ nghỉ, củ mới đào lên không thể nảy mầm, trải qua một thời gian dài mới nảy mầm, nhưng không đều, phải xử lý lạnh để phá vỡ ngủ nghỉ mới có thể nảy mầm được.
Mặt khác sự phân hóa mầm hoa và số lượng mầm hoa chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện trước khi trồng là chất lượng củ giống và điều kiện xử lý. Khi bắt đầu nảy mầm cũng là lúc cây bắt đầu phân hóa mầm hoa. Nguyên nhân là do mầm co ngắn trong vảy rất mẫm cảm với nhiệt độ thấp. Củ lily xử lý lạnh 50C từ 4 - 6 tuần, sau trồng 10 – 14 ngày đỉnh sinh trưởng mầm rút ngắn, đã bắt đầu hình thành mầm hoa nguyên thủy, mỗi mầm hoa nguyên thủy này lại kèm theo 1 – 2 mầm khác.
Khi củ đã qua xử lý lạnh trước khi trồng, củ có thể mọc mầm và phân hóa hoa. Là cơ quan dự trữ, củ lily có rất nhiều chất dinh dưỡng, trong đó tinh bột chiếm phần lớn. Hàm lượng tinh bột nhiều hay ít có quan hệ mật thiết tới sự nảy mầm của củ, đồng thời nó có tác dụng rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng nhu cầu hydrocarbon. Xử lý lạnh củ giống làm biến đổi các chất dự trữ trong củ, kích thích sự phân giải tinh bột và tăng hàm lượng đường hòa tan, giúp cho quá trình nảy mầm thuận lợi.
Xử lý lạnh bằng cách xếp củ lần lượt ra khay nhựa có phủ giá thể (có sẵn trong khay củ nhập về hoặc xơ dừa), tưới ẩm, để vào kho lạnh ở nhiệt độ thích hợp trong khoảng thời gian nhất định giúp cây sinh trưởng, phát triển thuận lợi, giảm hiện tượng cháy lá. Nguồn gốc, phân loại hoa lily Luan van 4 Theo Veli-Pekka, Pelkonen [17],Anderson 18], Daniels 20], Haw 21], Shimizu 24, hoa lily đã được nghiên cứu và thuần hoá gần 100 năm nay từ các loài hoang dại phân bố ở hầu hết các châu lục từ 10 0 - 600 vĩ bắc, châu á có 50- 60 loài, Bắc Mỹ có 24 loài và Châu Âu có 12 loài. Dole 30 cho rằng lily phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới và hàn đới bắc bán cầu, một số ít ở vùng núi cao nhiệt đới từ 1200 m như Trung Quốc, ấn Độ, Indonesia. Trung Quốc là nước có nhiều chủng loại lily nhất và cũng là trung tâm nguồn gốc lily trên thế giới.
Trung Quốc là nước có rất nhiều loài lily và là một trong những trung tâm khởi nguyên của lily, ở đây chủng loại rất phong phú và có rất nhiều loài đặc hữu. Trung Quốc có khoảng 47 giống và 18 biến chủng chiếm khoảng 1/2 giống trên thế giới trong đó có 36 giống và 15 biến chủng đặc hữu. Nhật Bản có 15 giống trong đó có 9 giống đặc hữu. Hàn Quốc có 11 giống trong đó có 3 giống đặc hữu.
Các nước châu á khác như Mông Cổ, ấn Độ, Mianma và châu Âu có 22 giống. Bắc Mỹ có 24 giống [28]. Trung Quốc là nước trồng hoa lily sớm nhất. Theo sử sách ghi chép sớm nhất ”bản thảo cương mục”, lily có tác dụng nhuận phế, giải nhiệt chứng tỏ lily sớm được dùng làm thuốc.
Thời Nam Bắc Triều (429 – 589) túc sát Tăng Hoàng đế nhà Lương đã làm thơ về hoa lily chứng tỏ 1400 năm trước đây hoa lily đã được đưa vào thường ngoạn ở Trung Quốc.[28] Cuối thế kỷ 16 nhà thực vật học người Anh dùng phương pháp phân loại để phân biệt đa số hoa lily có xuất xứ từ Châu Âu. Đầu thế kỷ 17 hoa lily Mỹ bắt đầu nhập vào Châu Âu. Cuối thế kỷ 18 hoa lily Trung Quốc tiếp tục vào Châu Âu. Cuối thế kỷ 19 do sự lây lan của virus làm cho hoa lily lâm vào tình trạng tuyệt diệt.
Cuối thế kỷ 19 hoa lily vua của Trung Quốc (L. regale) truyền vào châu Âu được dùng làm bố mẹ để lai tạo và tạo ra rất nhiều giống mới hoa lily lại thượng vượng trở lại. Sau đại chiến thế giới thứ 2 các nước Luan van 5 Âu Mỹ lại dẫy lên 1 cao trào tạo giống mới các giống và biến chủng của Trung Quốc trở thành nguồn bố mẹ quan trọng và tạo ra rất nhiều giống ưu việt [28]. Trước thế kỷ 19 ở châu Âu hoa lily được sử dụng chủ yếu là loài nguyên sản.
Đến thế kỷ 19 đã xuất hiện nhiều giống lai và đến thế kỷ 20 nhờ kỹ thuật lai tạo và nhân giống hiện đại đã có hàng nghìn giống lily lai ra đời[17]. Vị trí phân loại thực vật và các giống hoa lily trong hệ thống trồng trọt hiện nay. Trong hệ thống phân loại thực vật, cây hoa lily phổ biến trong sản xuất hiện nay có tên khoa học là Lilium spp., thuộc nhóm một lá mầm (Monocotyendones) phân lớp hành (lilidae), bộ hành (liliales), họ hành (liliaceae), chi (lilium). Đây là một trong những họ thực vật lớn nhất gồm 200 chi với hơn 3000 loài.
Chi Lilium có khoảng 220 loài, một số đã được trồng từ 3000 năm trước. Sau năm 1950, khoảng 1000 giống lily mới đã được lai tạo và đăng ký trên thế giới, trong đó nhiều giống lai có nguồn gốc từ hai loài Nhật Bản L. Chi Lilium có rất nhiều loài khác nhau với những dạng hoa, màu sắc hoa rất phong phú và hấp dẫn. Một số loài có dạng hình phễu như L.
candidum; có loài có dạng hình chén như L. wallichianum với những cánh hoa nhỏ hẹp; có loài lại có dạng hình chuông như L. cannadense; hình nõ điếu L. Màu sắc của lily vô cùng phong phú, từ các loài có màu trắng L.
candidum, màu vàng cho tới các loài có màu hồng, đỏ tím. Hoa lily có hương thơm ngát như L. auratum đến các loài có mùi rất khó chịu như L. Ngoài ra còn rất nhiều giống được lai tạo thành công giữa các loài trong tự nhiên như Aarrelian, Backhause, Fista, Olipie.
Chi Lilium được phân thành 7 nhóm: Lilium (Liriotypus), Martagon, Luan van 6 Pseudolirium, Archelirion, Sinomartagon, Leucolirion and Oxypetalum (Comber, 1949; De Jong, 1974). Trong đó căn cứ vào các đặc điểm hình thái học, kích thước, màu sắc và kiểu dáng hoa, người ta thấy có 3 nhóm lily có giá trị kinh tế quan trọng nhất là Archelirion, Sinomartagon, Leucolirion (theo Lim, 2000) [25]. Đặc điểm sinh vật học Lily là cây thảo lâu năm gồm thân địa sinh gọi là thân vảy (do lá biến đổi thành) và thân khí sinh là phần mang lá hoa và quả. Thân vảy còn gọi là củ: củ lily được coi là mầm dinh dưỡng lớn của cây.
Một củ già gồm: đế củ, vảy già, vảy mới ra, trục thân sơ cấp, thứ cấp và đỉnh sinh trưởng. Vì vậy, chất lượng phát dục của nó chịu ảnh hưởng ngoại cảnh, điều kiện trồng và chăm sóc. Thân khí sinh: trục thân củ hoa lily là do mầm dinh dưỡng co ngắn lại, vươn lên mặt đất, lá trên bắt đầu mở ra. Khi cây ra nụ thì số lá được cố định, chiều cao cây quyết định bởi số lá và chiều dài đốt, số lá chịu ảnh hưởng của chất lượng củ giống, điều kiện và thời gian xử lý lạnh củ giống.
Rễ: là hệ rễ chùm gồm 2 phần: rễ thân và rễ gốc.